Mô hình trồng cây riềng cho hiệu quả kinh tế tại xã Hợp Tiến, tỉnh Thanh Hoá
Nhằm tìm kiếm hướng đi bền vững trong phát triển kinh tế nông nghiệp, xã Hợp Tiến, tỉnh Thanh Hoá đã chú trọng đầu tư và mở rộng diện tích trồng cây riềng, với lợi thế về thổ nhưỡng và quy trình canh tác phù hợp. Đến nay, toàn xã đã có 250 hộ dân tham gia trồng riềng với tổng diện tích 80 ha, tập trung chủ yếu tại các thôn như: Châu Thành, Bình Định, Sơn Hương,… mô hình trồng riềng không chỉ góp phần nâng cao thu nhập cho người dân mà còn mở ra hướng đi bền vững trong phát triển kinh tế nông nghiệp tại địa phương.
Giống riềng đang được trồng ở xã Hợp Tiến là giống riềng bản địa, được lưu giữ và nhân giống qua nhiều năm, giống được lựa chọn là những củ riềng khỏe, nhiều mắt mầm, không sâu bệnh, đảm bảo tỷ lệ nảy mầm cao, giống riềng này có ưu điểm sinh trưởng khỏe, thích hợp với nhiều loại đất, đặc biệt là đất đồi, đất vườn tạp, đất lúa chịu hạn tốt, ít sâu bệnh, củ to, mùi thơm đặc trưng, một ưu điểm nổi bật của cây riềng là sau khi thu hoạch vẫn giữ lại 2 cây gốc để cây tiếp tục sinh trưởng, nhờ đó người trồng có thể thu hoạch 2 lần trong năm và thu hoạch 9-12 năm mới trồng lại. Thời gian trồng cây riềng vào vụ xuân, sau khi trồng khoảng 7-8 tháng cho thu hoạch lần đầu, để cây riềng sinh trưởng tốt, khâu làm đất và bố trí mật độ trồng có vai trò quan trọng như: đất được cày bừa kỹ, lên luống cao từ 20-25 cm nhằm đảm bảo thoát nước, hạn chế tình trạng thối củ, hố trồng kích thước khoảng 20 x 20 x 20 cm, khoảng cách trồng phổ biến 50 x 50 cm, mật độ khoảng 40.000 – 50.000 khóm/ha. Trong quá trình trồng cần sử dụng phân hữu cơ để nâng cao độ tơi xốp của đất và chất lượng củ, mỗi hố được bón lót từ 0,3-0,5 kg phân chuồng hoai mục kết hợp với một lượng phân lân phù hợp, sau khi trồng từ 1-2 tháng và sau mỗi lần thu hoạch, tiến hành bón thúc bằng phân NPK hoặc phân hữu cơ vi sinh để cây phục hồi nhanh, tiếp tục sinh trưởng và cho củ mới. Trong giai đoạn đầu cây cần được giữ ẩm thường xuyên, nhất là thời điểm nắng nóng kéo dài cần tiến hành làm cỏ, xới xáo định kỳ 2-3 lần để hạn chế cỏ dại, đồng thời giúp đất tơi xốp, tạo điều kiện cho củ phát triển. Do cây riềng ít sâu bệnh, nên chủ yếu cần chú ý phòng ngừa bệnh thối củ bằng cách đảm bảo hệ thống thoát nước tốt, tránh để ruộng bị úng.
Về thị trường tiêu thụ, củ riềng từ lâu đã là một nguyên liệu quen thuộc và không thể thiếu trong ẩm thực Việt Nam. Củ riềng được sử dụng để chế biến nhiều món ăn đặc trưng như: giả cầy, cá kho, thịt kho, các món nướng, nước chấm, làm gia vị trong chế biến thực phẩm,… nhờ hương thơm đặc trưng, vị cay ấm giúp khử mùi tanh và tăng hương vị món ăn, không chỉ có giá trị trong ẩm thực, củ riềng còn được sử dụng rộng rãi trong y học cổ truyền. Theo Đông y, củ riềng có tính ấm, vị cay, có tác dụng hỗ trợ tiêu hóa, giảm đầy hơi, chống lạnh bụng, giảm đau,… và được dùng trong một số bài thuốc chữa cảm lạnh, đau bụng, phong thấp. Nhờ những công dụng đa dạng này nên nhu cầu tiêu thụ củ riềng có đầu ra ổn định. Hiện nay, sản phẩm củ riềng tại xã Hợp Tiến chủ yếu được tiêu thụ thông qua hệ thống thương lái thu mua ngay tại địa phương. Riềng sau thu hoạch được vận chuyển đi tiêu thụ tại Thanh Hoá và các tỉnh như: Ninh Bình, Hưng Yên, Nghệ An,…, để cung cấp cho các chợ đầu mối và các cơ sở chế biến thực phẩm, góp phần tạo đầu ra thuận lợi cho người trồng. Việc hình thành mối liên kết giữa hộ dân tại xã Hợp Tiến với các thương lái liên tỉnh không chỉ đảm bảo việc tiêu thụ sản phẩm tươi mà còn tạo động lực để bà con mở rộng diện tích canh tác. Tuy nhiên, để tối ưu hóa giá trị kinh tế, hướng đi trong tương lai cần chú trọng hơn vào việc sơ chế, đóng gói và xây dựng thương hiệu để tiếp cận trực tiếp vào các hệ thống siêu thị hoặc nhà máy dược phẩm chính quy, tránh tình trạng bị ép giá trong những lúc cao điểm mùa vụ.

Khu trồng riềng, thôn Bình Định, xã Hợp Tiến
Do phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng, cây riềng trên đồng đất xã Hợp Tiến, tỉnh Thanh Hóa đang phát triển khá tốt và được xem là một trong những cây trồng chủ lực mang lại thu nhập ổn định cho người dân, trung bình 1 ha trồng riềng đạt năng suất khoảng 80 tấn/ha/năm, với giá bán trên thị trường dao động khoảng 7 – 8 triệu đồng/tấn, doanh thu đạt 640 triệu đồng/ha/năm, trừ chi phí cho lợi nhuận 320 triệu đồng/ha/năm, cao hơn nhiều so với trồng lúa và các loại cây trồng khác như: mía, sắn, keo,… trên cùng diện tích. Thực tế sản xuất cho thấy, việc tận dụng các diện tích đất này để trồng riềng không chỉ nâng cao hiệu quả sử dụng đất mà còn mở ra hướng đi mới trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng, góp phần tăng thu nhập cho người dân.

Thu hoạch riềng
Theo ông Hà Hữu Ngọc, thôn Bình Định, xã Hợp Tiến, tỉnh Thanh Hóa cho biết: Trước đây trên điện tích đất vườn tạp gia đình trồng mía, sắn song hiệu quả không cao và gia đình đã chuyển sang trồng các cây trồng khác nhưng cũng thấy không hiệu quả sau khi thấy mô hình trồng cây riềng của một số hộ dân trồng cho hiệu quả cũng như đi thăm quan, tìm hiểu các mô hình trồng riềng ở một số xã trong tỉnh như: xã Công Chính, Thăng Bình,… gia đình quyết định chuyển đổi diện tích 0,5 ha đất trồng mía, sắn, lúa kém hiệu quả sang trồng cây riềng. Đây cũng là một trong những hộ trồng cây riềng đầu tiên và diện tích nhiều nhất xã Hợp Tiến. Theo ông Hà Hữu Ngọc cho biết thêm: Cây riềng rễ trồng, ít công chăm, ít sâu bệnh, chi phí đầu tư cho cây riềng không nhiều, chủ yếu gồm chi phí giống lần đầu, phân bón, công chăm sóc, thu hoạch, giá bán cao và đầu ra ổn định. Nhờ vào việc chăm sóc tốt nên cây riềng của gia đình ông luôn phát triển tốt và cho năng xuất cao, với 0,5 ha riềng, mỗi năm gia ông thu hoạch khoảng 40 tấn, sau khi trừ hết chi phí, gia đình ông có lãi trên 180 triệu đồng/năm, đồng thời giải quyết việc làm cho 4 lao động thường xuyên và khoảng 2 lao động thời vụ, với thu nhập ổn định từ 6-7 triệu đồng/tháng, so với các cây trồng trước đây thì trồng cây riềng mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều lần, tạo công ăn việc làm và có nguồn thu nhập ổn định cho gia đình. Ngoài cung cấp củ riềng cho thị trường, ông Ngọc còn cung cấp cây giống và hướng dẫn kỹ thuật trồng cây riềng cho bà con nông dân có nhu cầu phát triển sản xuất.
Từ hiệu quả của mô hình trồng riềng, chính quyền địa phương đang khuyến khích người dân mở rộng diện tích, đồng thời hướng dẫn áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Bên cạnh đó, địa phương cũng định hướng hình thành các vùng trồng riềng tập trung, tiến tới xây dựng chuỗi liên kết tiêu thụ sản phẩm nhằm tạo đầu ra ổn định, nâng cao giá trị kinh tế cho cây trồng này. Có thể thấy, mô hình trồng cây riềng tại xã Hợp Tiến đã và đang mang lại hiệu quả thiết thực, góp phần chuyển đổi cơ cấu cây trồng, khai thác hiệu quả diện tích đất đồi và nâng cao thu nhập cho người dân. Trong thời gian tới, nếu được tổ chức sản xuất theo hướng tập trung và gắn với thị trường tiêu thụ, cây riềng hoàn toàn có thể trở thành một trong những cây trồng chủ lực, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp bền vững tại địa phương./.
Văn Lộc