Viện Nông nghiệp Thanh Hóa nghiên cứu, khảo nghiệm thành công giống lúa thuần Sao Vàng năng suất, chất lượng cao
Ngày nay, để tăng cường khả năng cạnh tranh của ngành hàng lúa gạo trên thị trường, việc tập trung tối ưu hóa năng suất, nâng tầm chất lượng và gia tăng giá trị thương mại của hạt gạo đang là yêu cầu cấp thiết hàng đầu. Trong các giải pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng thì giống lúa đang đóng vai trò then chốt, quan trọng. Trong bối cảnh nhiều giống lúa đang dần thoái hóa, nguồn giống năng suất, chất lượng cao còn phụ thuộc nhiều vào nguồn giống lai nhập nội, giá thành hạt giống cao, nguồn cung chưa thật sự chủ động, trong khi một số giống lúa chất lượng cao lại có khả năng chống chịu sâu bệnh và chống đổ chưa tốt. Ngoài ra, yêu cầu về chất lượng gạo ngày càng cao và tác động của biến đổi khí hậu ngày càng rõ nét, việc nghiên cứu, chọn tạo các giống lúa thuần mới có năng suất, chất lượng cao, chống chịu sâu bệnh và thích ứng rộng là yêu cầu hàng đầu đối với sản xuất nông nghiệp hiện nay. Việc nghiên cứu, chọn tạo và đưa vào sản xuất các giống lúa mới không chỉ giải bài toán nâng cao hiệu quả kinh tế cho người trồng lúa, mà còn là mắt xích quan trọng để xây dựng thương hiệu, gia tăng sức cạnh tranh và nâng tầm giá trị sản phẩm lúa gạo Việt Nam trên thị trường trong nước và quốc tế.
Tại Thanh Hóa – địa phương sở hữu diện tích sản xuất lúa gạo lớn nhất khu vực Bắc Trung Bộ với hơn 145.000 ha (trong đó trên 130.000 ha là đất chuyên canh hai vụ); để phát triển nền sản xuất lúa gạo bền vững, Thanh Hóa cần có thêm những giống lúa thuần do địa phương chủ động nghiên cứu chọn tạo, vừa giảm chi phí giống, vừa bảo đảm chất lượng đồng đều, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của thị trường. Đây cũng là định hướng phù hợp với Chiến lược phát triển nông nghiệp bền vững giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 theo Quyết định số 150/QĐ-TTg, ngày 28/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ; trong đó giống cây trồng được xác định là khâu then chốt nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của ngành nông nghiệp. Viện Nông nghiệp Thanh Hoá là đơn vị sự nghiệp khoa học – công nghệ thực hiện chức năng nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ, tư vấn về chiến lược phát triển và cung cấp các dịch vụ trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản. Với đội ngũ cán bộ, kỹ sư giàu kinh nghiệm trong việc nghiên cứu, chọn tạo và khảo nghiệm giống, Viện Nông nghiệp Thanh Hóa được UBND tỉnh giao thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh: Nghiên cứu chọn tạo giống lúa thuần (Sao Vàng) có năng suất cao, chất lượng tốt, thích ứng với điều kiện của tỉnh Thanh Hóa và các tỉnh phía Bắc, do Thạc sĩ Lê Văn Chung làm chủ nhiệm đề tài.

Mô hình trình diễn giống lúa Sao Vàng tại xã Thọ Long, tỉnh Thanh Hóa
Để tạo ra một giống lúa mới đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường, tập thể cán bộ, viên chức và người lao động của Viện Nông nghiệp Thanh Hóa đã dành nhiều năm nghiên cứu, chọn lọc và khảo nghiệm theo quy trình nghiêm ngặt. Quá trình chọn tạo giống lúa thuần Sao Vàng là hành trình kéo dài xuyên suốt và trải qua vô số chu kỳ chọn lọc và lai tạo khắt khe, bắt đầu bằng việc thu thập, đánh giá và phân loại hàng trăm nguồn gen lúa khác nhau từ cả trong và ngoài nước để tìm kiếm ra những cá thể mang những đặc tính ưu việt nhất như: một cá thể có khả năng đẻ nhánh khỏe, một cá thể khác lại có bộ rễ sâu giúp chịu hạn tốt, hoặc cá thể có chất lượng hạt gạo xuất sắc,… Sau khi xác định được các dòng bố mẹ tiềm năng, công tác lai tạo (lai hữu tính) giữa các dòng bố mẹ ưu tú (VL8 × VL52) nhằm tạo ra tổ hợp lai có nhiều đặc tính vượt trội được tiến hành. Nhiều tổ hợp lai đã được thực hiện trong nhà kính và trên đồng ruộng thực nghiệm. Hạt lai F1 sau đó được gieo trồng và theo dõi kỹ lưỡng. Từ thế hệ F2 trở đi, hiện tượng phân ly tính trạng bắt đầu xuất hiện. Tiếp sau đó phải chọn lọc ra những cá thể mang đầy đủ các đặc tính theo phương pháp phả hệ (Pedigree) nhằm ổn định các đặc tính mong muốn, loại bỏ những cá thể mang gen lặn xấu. Quá trình chọn lọc phả hệ này kéo dài qua nhiều thế hệ (F3, F4, F5,…) cho đến khi dòng lúa trở nên thuần nhất về mặt di truyền, không còn hiện tượng phân ly. Từ năm 2018 đến năm 2025, giống lúa thuần Sao Vàng được đưa vào khảo nghiệm tác giả, so sánh với giống đối chứng Hương thơm số 1 và Bắc thơm số 7.
Quá trình khảo nghiệm giống lúa Sao Vàng được thực hiện một cách bài bản, khoa học và tuân thủ nghiêm ngặt các quy định hiện hành về công nhận giống cây trồng mới. Giống lúa Sao Vàng được đánh giá thông qua hệ thống khảo nghiệm diện hẹp, khảo nghiệm diện rộng, khảo nghiệm có kiểm soát, khảo nghiệm giá trị canh tác và giá trị sử dụng theo quy phạm khảo nghiệm giống lúa TCVN 13381-1:2023 của Bộ Nông nghiệp và PTNT (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) tại nhiều vùng sinh thái khác nhau như: khu vực Bắc Trung Bộ, đồng bằng sông Hồng và trung du miền núi phía Bắc. Việc khảo nghiệm ở nhiều vùng sinh thái đã giúp đánh giá toàn diện khả năng thích nghi, tính ổn định cũng như tiềm năng mở rộng sản xuất của giống lúa trong điều kiện sản xuất thực tế. Ngoài ra, Viện Nông nghiệp Thanh Hóa còn xây dựng mô hình trình diễn giống lúa Sao Vàng với quy mô 02 ha/mô hình tại 5 điểm tại các địa phương, trong đó có 2 điểm ngoài tỉnh (xã Nghi Dương, TP. Hải Phòng; xã Bình Phú, tỉnh Phú Thọ) và 3 điểm trong tỉnh (xã Xuân Lập, xã Thọ Long, xã Hậu Lộc). Các mô hình không chỉ giúp đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của giống trong điều kiện sản xuất thực tế mà còn tạo điều kiện để cán bộ kỹ thuật, nông dân trực tiếp quan sát, đánh giá hiệu quả của giống lúa mới. Trước khi triển khai mô hình, Viện Nông nghiệp Thanh Hóa đã tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật, hội nghị đầu bờ nhằm hướng dẫn người dân áp dụng đúng quy trình canh tác; qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả mô hình và tạo tiền đề cho việc nhân rộng việc đưa giống lúa mới trong sản xuất đại trà. Nhằm khai thác tối đa tiềm năng của giống mới, Viện Nông nghiệp Thanh Hóa còn tiến hành đồng bộ các nghiên cứu về biện pháp kỹ thuật canh tác. Các thí nghiệm được triển khai để xác định mật độ cấy, số dảnh cấy, liều lượng phân bón và thời vụ gieo cấy phù hợp đối với giống lúa Sao Vàng. Đây là những yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng, phát triển và năng suất cây lúa. Thông qua các nghiên cứu này, nhóm thực hiện đề tài đã xây dựng được quy trình kỹ thuật canh tác phù hợp, làm cơ sở hướng dẫn sản xuất thương phẩm và nhân rộng giống trong thực tiễn.

Vùng trồng thử nghiệm lúa Sao Vàng của công ty TNHH Nông lâm nghiệp TBT tại xã Lân Phong, tỉnh Quảng Ngãi
Sau nhiều năm nghiên cứu, khảo nghiệm kết quả giống lúa thuần Sao Vàng đã được Bộ Nông nghiệp và Môi trường công nhận lưu hành theo Quyết định số 60/QĐ-TT-CTL ngày 31/01/2024 của Cục trưởng Cục Trồng trọt; Quyết định số 36/QĐ-TTTV-QLGCT ngày 20/5/2025 lưu hành tại vùng Duyên hải Nam Trung Bộ; Quyết định số 322e/QĐ-TTTV-QLG ngày 30/3/2026 lưu hành tại vùng Đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ. Kết quả nghiên cứu cho thấy giống lúa Sao Vàng sở hữu nhiều đặc tính ưu việt. Đây là giống lúa thuần có thời gian sinh trưởng phù hợp với cơ cấu mùa vụ của các tỉnh phía Bắc, Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ, giúp nông dân thuận lợi trong bố trí thời vụ sản xuất, giống lúa thuần Sao Vàng có thời gian sinh trưởng tương đối ngắn: vụ Xuân từ 127 – 146 ngày, vụ Mùa từ 100 – 105 ngày. Cây cao từ 96,7 – 119,4 cm, bộ lá gọn, khả năng chống đổ khá tốt. Khối lượng 1.000 hạt đạt 23,4 – 25,4 g cho thấy hạt chắc và đồng đều. Giống có khả năng sinh trưởng khỏe, đẻ nhánh khá, cây cứng và thích ứng rộng với nhiều điều kiện canh tác khác nhau. Đặc biệt, giống thể hiện khả năng chống chịu khá với các đối tượng sâu bệnh nguy hiểm thường gặp trên cây lúa như bệnh đạo ôn, bệnh bạc lá và rầy nâu,… Đây là những yếu tố rất quan trọng giúp giảm chi phí thuốc bảo vệ thực vật, giảm rủi ro trong sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế. Không chỉ có khả năng chống chịu tốt, giống lúa Sao Vàng còn nổi bật về tiềm năng năng suất, sản lượng. Với mục tiêu đặt ra ngay từ đầu của nhiệm vụ là tạo ra giống có năng suất cao hơn giống đối chứng Hương thơm số 1 và Bắc thơm số 7– hai giống lúa thơm phổ biến hiện nay rất được thị trường ưa chuộng; Qua các đợt khảo nghiệm tại nhiều vùng sinh thái khác nhau, giống đã thể hiện khả năng cho năng suất ổn định từ 5,8 – 6,8 tấn/ha/vụ, cao hơn so với giống lúa Hương thơm số 1 (5,1– 6,5 tấn/ha/vụ) và Bắc thơm số 7 (4,7 – 5,5 tấn/ha/vụ). Trong quá trình khảo nghiệm, các chỉ tiêu về chất lượng gạo và chất lượng cơm đều được đánh giá kỹ lưỡng nhằm bảo đảm giống mới vừa cho năng suất cao vừa đáp ứng yêu cầu về chất lượng thương phẩm. Kết quả khảo nghiệm cho thấy, giống lúa Sao Vàng cho hạt gạo trắng trong tự nhiên, hạt gạo thon dài, đẹp mắt và đạt độ đồng đều cao sau khi xay xát; khi nấu lên cơm trắng, mềm dẻo, khá ngon, đặc biệt giống có mùi thơm đặc trưng. Năng suất cao, chất lượng tốt, ổn định giúp giá bán lúa thương phẩm của giống lúa Sao Vàng trên thị trường luôn cao hơn so với các giống lúa đại trà từ 1.000 đến 1.500 đồng/kg. Đồng thời, nhờ khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, người nông dân tiết kiệm được từ 15 – 20% chi phí mua thuốc bảo vệ thực vật và công lao động. Tổng hợp các yếu tố này, lợi nhuận thuần thu được từ việc canh tác giống lúa Sao Vàng có thể cao hơn từ 20 – 30% so với việc sử dụng các giống lúa cũ. Đối với những hộ nông dân có diện tích canh tác lớn, mức tăng thu nhập này là rất đáng kể, giúp họ cải thiện đời sống và có thêm vốn để tái đầu tư sản xuất.
Nhận thấy tiềm năng phát triển của giống lúa thuần Sao Vàng, nhiều đơn vị trong nước đã liên hệ, đặt hàng mua giống trồng thử tại nhiều địa phương, điển hình có thể kể đến như: công ty TNHH Nickco (TP. Hà Nội), công ty TNHH Nông lâm nghiệp TBT (tỉnh Quảng Ngãi). Chỉ tính riêng công ty TNHH Nickco, từ năm 2024 đến nay đã hợp tác với Viện Nông nghiệp Thanh Hóa cung cấp ra thị trường hàng trăm tấn lúa Sao Vàng, tập trung ở các tỉnh Đồng bằng sông Hồng và Trung du miền núi phía Bắc. Mặt khác, kết quả thành công từ nghiên cứu, khảo nghiệm giống lúa Sao Vàng tại nhiều địa phương cả trong và ngoài tỉnh đều nhận được những phản hồi tích cực của người dân và chính quyền địa phương; từ đó giúp giống lúa Sao Vàng có tiềm năng trở thành một trong những giống lúa chủ lực, đáp ứng yêu cầu sản xuất hàng hóa quy mô lớn phục vụ sản xuất trên địa bàn cả trong và ngoài tỉnh.
Việc nghiên cứu thành công giống lúa thuần Sao Vàng là bước tiến quan trọng của Viện Nông nghiệp Thanh Hóa, khẳng định năng lực nghiên cứu và làm chủ công nghệ chọn tạo giống của đội ngũ cán bộ khoa học Viện nói riêng và tỉnh Thanh Hóa nói chung. Thành công này không chỉ góp phần làm phong phú thêm bộ giống lúa chất lượng của tỉnh mà còn tạo cơ sở để hình thành các vùng sản xuất lúa hàng hóa quy mô lớn, nâng cao giá trị gia tăng cho ngành hàng lúa gạo. Với những ưu điểm nổi bật về năng suất, chất lượng, khả năng chống chịu sâu bệnh và thích ứng rộng, giống lúa thuần Sao Vàng được kỳ vọng sẽ sớm được đưa vào sản xuất trên diện rộng, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất lúa, tăng thu nhập cho nông dân và thực hiện mục tiêu phát triển nền nông nghiệp hiện đại, bền vững của tỉnh Thanh Hóa cũng như các tỉnh phía Bắc trong giai đoạn tới.
Mạnh Tùng