Mô hình nuôi nhím mang lại hiệu quả kinh tế tại xã Hợp Tiến, tỉnh Thanh Hoá
Những năm gần đây, xã Hợp Tiến, tỉnh Thanh Hóa đã thực hiện đồng bộ các giải pháp chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi; xây dựng các mô hình sản xuất, ứng dụng khoa học – kỹ thuật, khuyến khích các hộ dân chuyển đổi từ các mô hình chăn nuôi truyền thống kém hiệu quả sang mô hình chăn nuôi như: Mô hình nuôi yến, mô hình nuôi ếch, mô hình nuôi nhím, chim bồ câu, nhằm tận dụng điều kiện tự nhiên sẵn có, giảm rủi ro và nâng cao thu nhập.
Hiện tại xã Hợp Tiến đã có 22 hộ gia đình tham gia mô hình nuôi nhím như: Gia đình bà Lê Thị Phương; anh Lê Huy Việt, anh Lê Huy Nam,…mỗi hộ gia đình hiện có trên 100 cặp bố, mẹ nhím sinh sản, 200- 300 con nhím thương phẩm tập trung ở các thôn 2, 3, 4, 5,…Đặc biệt là mô hình chăn nuôi nhím sinh sản và thương phẩm của bà Lê Thị Phương, Thôn 4, xã Hợp Tiến, tỉnh Thanh Hoá không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế mà còn góp phần vào việc phát triển nông nghiệp bền vững, đa dạng hóa sinh kế cho người dân nông thôn.

Cặp nhím sinh sản của hộ bà Lê Thị Phương, thôn 4, xã Hợp Tiến
Nhím là loài động vật gặm nhấm có thân hình to, lưng phủ đầy gai nhọn là đặc điểm giúp chúng tự vệ hiệu quả, nhím thường sống trong hang, hoạt động về đêm, có tập tính hiền lành, có sức đề kháng cao, ít bệnh, quá trình nuôi không tốn nhiều công chăm sóc, ở Việt Nam, giống nhím phổ biến nhất là nhím lông cứng, hiện nay, nhím không chỉ xuất hiện trong tự nhiên mà còn được nhiều hộ dân nuôi nhím sinh sản để bán nhím giống và nhím thương phẩm nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao. Do nhím là động vật hoang dã nên khi xác định chăn nuôi các hộ chăn nuôi phải xin cấp giấy phép chăn nuôi động vật hoang dã của sở Nông nghiệp và Môi trường Thanh Hoá, thịt nhím được xem là đặc sản, giàu dinh dưỡng cao, được các nhà hàng, quán ăn ưa chuộng do thịt thơm ngon, ít mỡ, nhất là nhu cầu chế biến thành nhiều món ăn bổ dưỡng, trong thịt nhím có chứa các chất như hàm lượng protein, chất béo, vitamin B1, B2, B6, B12, các khoáng chất như sắt, kẽm, magie, phốt pho,…có nhiều tác dụng đối với sức khoẻ con người như: tăng cường cơ bắp, hồi phục mô, hỗ trợ hệ miễn dịch, bồi bổ máu,… mật và da nhím được dùng trong y học dân gian để chữa một số bệnh như: bệnh dạ dày, gai nhím được dùng làm đồ trang sức, vật trang trí, vì thế, đầu ra của nhím thịt và nhím giống thuận lợi.

Nhím 3 tháng tuổi của hộ bà Lê Thị Phương, thôn 4, xã Hợp Tiến
Nắm bắt được nhu cầu của thị trường, bà Phương đi học tập kinh nghiệm cách nuôi ở nhiều trang trại có uy tín tại các tỉnh như: Bắc Ninh, Thái Nguyên, Phú Thọ, Nghệ An,… tham khảo nhiều tư liệu trên mạng internet, khi có kiến thức về chăm sóc loài nhím, bà làm thủ tục xin giấy phép chăn nuôi và huy động kinh phí để xây dựng 1 khu chuồng trại có quy mô khoảng 200 m2, với 100 ô, các ô chuồng xây bằng gạch, mỗi một ô chuồng có chiều dài 1,2 m, chiều ngang 1,9 m, có thể nuôi từ 4-6 con, nền chuồng đổ be tông, có độ dốc nhẹ để thoát nước, có máng ăn, cửa chuồng làm bằng sắt có then che chắn, tránh nhím cắn phá, ngoài có lối đi rộng 1,2 m để thuận tiện chăm sóc, vận chuyển thức ăn, có hệ thống thoát nước, rãnh thu gom chất thải, lắp đặt hệ thống quạt gió, hệ thống dẫn nước uống trực tiếp, xử lý chất thải của nhím được xịt rửa mỗi ngày và dẫn trực tiếp xuống hầm biogas để giảm thiểu tối đa mùi hôi thối. Nhím là loài vật dễ nuôi, không đòi hỏi kỹ thuật cao, nếu được chăm sóc tốt, cho ăn đầy đủ, nhím rất mau lớn và sinh sản nhiều, nhím thường sinh sản theo mùa, tập trung vào 2 thời điểm đó là từ tháng 1 đến tháng 3 và từ tháng 9 đến tháng 12 hàng năm, nhím con từ lúc sinh ra đến khi trưởng thành và lên giống sinh sản từ 8 đến 12 tháng, 1 nhím đực có thể phối cặp với từ 2 đến 3 nhím cái vẫn cho sinh sản, nhím cái mang thai khoảng 3 tháng và nuôi con khéo, ít khi bị chết con, mỗi cặp đẻ 2 lứa/năm, mỗi lứa đẻ từ 2 đến 3 con tùy thuộc vào độ tuổi và khả năng sinh sản, một con nhím mẹ có thể sinh sản trong vòng 15 – 20 năm. Tuy nhiên, cần lưu ý, khi đàn nhím sinh sản, cần chăm sóc con non lẫn con mẹ kỹ lưỡng, trong đó lưu ý bổ sung chất dinh dưỡng như chất đạm, đường, để vật nuôi luôn khỏe mạnh, không bị nhiễm bệnh, trung bình mỗi ngày 1 con nhím trưởng thành cần khoảng 2 kg thức ăn, thường là các loại như: Củ sắn, khoai, cây chuối, ngô hạt, bầu, bí, mía, cỏ voi, các loại lá cây, rau, củ, quả, có thể bổ sung: cám ngô, bột sắn, muối khoáng, nước sạch hằng ngày, mỗi ngày, nhím được cho ăn hai lần, buổi sáng ăn rau, củ, quả, buổi chiều tối ăn hạt hạt ngô để bổ sung tinh bột. Đây là thức ăn chứa nhiều chất dinh dưỡng, cung cấp nhiều đường, kích thích hệ tiêu hóa của nhím; đồng thời, để nhím có sức đề kháng, tăng trưởng nhanh, ít dịch bệnh, chị sử dụng thêm men vi sinh trộn vào thức ăn để cho nhím ăn hằng ngày. Nguồn thức ăn chủ yếu là của gia đình trồng như ngô, sắn, chuối,… và nguồn thức ăn sẵn có ở địa phương nên đảm bảo chất lượng và an toàn, Vì vậy, chi phí thức ăn cho nhím tại trang trại rất thấp. Việc phòng và trị bệnh là khâu quan trọng trong kỹ thuật nuôi nhím. Trong điều kiện nuôi nhốt, nhím rất dễ bị mẫn cảm với những loại thức ăn mới lạ, chúng thường mắc bệnh đường ruột (do thức ăn ôi thiu hoặc môi trường ẩm ướt), bệnh ghẻ, rụng lông (do ký sinh trùng ngoài da), bệnh hô hấp (vào mùa lạnh), cách phòng bệnh tốt nhất là vệ sinh chuồng trại sạch, thức ăn tươi, bổ sung muối khoáng thường xuyên.
Hiện trang trại của gia đình bà Phương có 100 cặp nhím bố mẹ sinh sản, mỗi năm sinh sản khoảng 300 con, trung bình mỗi năm trang trại bán được 100 cặp nhím giống, mỗi cặp nhím giống 2 – 3 tháng tuổi, nặng khoảng 2 – 3 kg, được bán với giá 2,7 – 3,5 triệu đồng/cặp và bán nhím thương phẩm từ 2,5 – 3 tấn/năm, với giá 300.000 đồng/kg. Tổng doanh thu cả nhím giống và nhím thương phẩm là 1,2 tỷ đồng/năm, trừ chi phí, mỗi năm thu lợi nhuận 700 triệu đồng, tạo được công ăn việc làm ổn định cho gia đình và 4 lao động với mức lương 6 – 7 triệu đồng/người/tháng. Thời gian tới, gia đình bà Phương sẽ tiếp tục mở rộng quy mô trang trại nuôi nhím của mình và tạo dựng thương hiệu cũng như liên kết, hỗ trợ trong tiêu thụ nhím giống và nhím thương phẩm. Đây cũng là địa chỉ tin cậy cung cấp giống nhím cũng như đến thăm quan, học tập kinh nghiệm để xây dựng mô hình nuôi nhím.
Cũng theo anh Lê Huy Việt, thôn 3 cho biết: Với quy mô chuồng trại 150 m2, gia đình anh nuôi 60 cập nhím sinh sản, mỗi năm sinh sản khoảng 100 – 200 con nhím và anh để nuôi nhím thương phẩm. Đối với nhím thương phẩm, chú trọng khâu vỗ béo, tăng cường khẩu phần thức ăn tinh và rau củ tươi để nhím tăng trọng nhanh, đảm bảo chất lượng thịt thơm ngon. Nhím thương phẩm sau 13 – 15 tháng nuôi, mỗi con đạt trọng lượng từ 10 – 14 kg, giá bán dao động 300.000 đồng/kg. Hiện nay, mỗi năm gia đình anh cung cấp ra thị trường từ 1,6 – 2 tấn nhím thương phẩm, với doanh thu 600 triệu đồng/năm, sau khi trừ chi phí thức ăn, chuồng trại và công chăm sóc, lợi nhuận đạt 350 – 400 triệu đồng/năm. So với các con nuôi trước đây thì nuôi nhím mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều lần, tạo công ăn việc làm và có nguồn thu nhập ổn định cho gia đình. Thời gian tới, anh Việt tiếp mở rộng quy mô và tăng số lượng đàn nhím để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ, đồng thời hướng dẫn các hộ nuôi nhím về kỹ thuật. Thịt nhím là một trong những đặc sản được nhiều thực khách ưa chuộng tại các nhà hàng và quán ăn cũng như cung cấp nhím giống cho nhiều hộ nuôi và hướng dẫn kỹ thuật nuôi cho nhiều hộ dân trong tỉnh và ngoài tỉnh như: Thái Nguyên, Ninh Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh,…
Có thể thấy, mô hình nuôi nhím thương phẩm và sinh sản ở xã Hợp Tiến, tỉnh Thanh Hoá là một trong những mô hình chăn nuôi mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt trên địa bàn xã, mở ra hướng phát triển kinh tế mới cho nông dân địa phương. Đặc biệt, nhím là vật nuôi dễ thích nghi, tận dụng được nguồn thức ăn sẵn có, ít dịch bệnh nên phù hợp với điều kiện của địa phương. Đây là một trong những mô hình chăn nuôi đặc sản có tiềm năng nhân rộng, góp phần nâng cao thu nhập và xây dựng nền nông nghiệp bền vững. Thời gian tới, xã sẽ tiếp tục khuyến khích, hỗ trợ bà con học hỏi, nhân rộng mô hình, gắn với việc quản lý, đăng ký nuôi nhím theo quy định, đảm bảo phát triển bền vững và có đầu ra ổn định./.
Văn Lộc