Hiệu quả từ mô hình nuôi cá Dốc giống đặc sản (cá Bỗng) tại xã Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa.
Thanh Hóa, mảnh đất hội tụ nhiều tiềm năng phát triển kinh tế, đặc biệt là khu vực miền núi phía Tây tỉnh Thanh Hóa. Trong những năm gần đây, cùng với việc phát triển nông nghiệp bền vững gắn với bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên bản địa, mô hình nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là các loại giống cá đặc sản đang nổi lên như một hướng đi mới, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Trong đó, mô hình nuôi cá giống đặc sản: cá Dốc – một loài cá bản địa, quý hiếm tại xã Bá Thước – đã chứng minh được giá trị vượt trội, trở thành niềm hy vọng thoát nghèo và vươn lên làm giàu cho người dân địa phương.

Cá Dốc trưởng thành tại xã Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa.
Cá Dốc hay còn gọi là cá Bỗng (tên khoa học là: Spinibarbus denticulatus), đây là loài cá thuộc họ cá chép. Ở Việt Nam, cá Dốc phân bổ tập trung ở các khu vực miền núi các tỉnh Tây Bắc và Bắc Trung bộ từ Thanh Hóa trở vào đến Quảng Trị. Cá Dốc được cho là có nguồn gốc từ thượng nguồn sông Mãchảy qua địa phận các xã miền núi phía Tây tỉnh Thanh Hóanhư: Cẩm Thủy, Bá Thước, Pù Luông,…chính vì vậy cá Dốc được coi là loài cá đặc sản củađịa phương. Tại xã Bá Thước, cá Dốc là loài cá tự nhiên thường sinh sống ở các con suối, khe nước đá sạch. Loài cá này nổi bật với hình dáng thuôn dài, màu sắc đặc trưng và chất lượng thịt săn chắc, thơm ngon được người dân địa phương và thực khách đánh giá là một trong những đặc sản quý hiếm. Cá Dốc nuôi càng lâu năm giá trị kinh tế càng cao, cá thương phẩm từ 2 năm trở đi có thể đạt trọng lượng từ 1,5 kg/con là có thể xuất bán. Giá bán trung bình từ 180.000 – 200.000 đồng/kg (cao gấp đôi so với các loại cá nước ngọt khác như: cá chép, cá trắm,…). Chính vì vậy, ngoài giá trị về văn hóa địa phương, cá Dốc còn có giá trị rất lớn về kinh tế khi nhu cầu của thị trường ngày càng yêu thích sử dụng các sản phẩm là đặc sản vùng miền.

Cá Dốc giống của gia đình ông Vi Văn Loan, thôn Chiềng Lau, xã Bá Thước, Thanh Hóa.
Nhận thấy được tiềm năng từ con cá Dốc, hộ gia đình ông Vi Văn Loan ( thôn Chiềng Lau, xã Bá Thước) đã tận dụng các ao, đầm của gia đình và thuê lại của các hộ dân bỏ hoang xung quanh để cải tạo và nhân giống loài cá Dốc. Với tổng diện tích mặt nước hơn 5.000 m2, ông Loan chia thành nhiều ao nhỏ có diện tích từ 100 – 600 m2; trong đó, có 1 ao nuôi cá bố mẹ sinh sản và 9 ao nuôi cá con giống.Theo ông Loan chia sẻ, để đảm bảo cho đàn cá sinh trưởng và phát triển khỏe mạnh cần chuẩn bị tốt công tác vệ sinh ao đầm trước khi thả giống. Sau mỗi vụ nuôi hoặc trước khi bắt đầu vụ mới, cần tát cạn nước ao, nạo vét lớp bùn đen ở đáy ao,lớp bùn này chứa nhiều chất hữu cơ phân hủy, khí độc và mầm bệnh, nếu không loại bỏ sẽ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của cá.Sau khi dọn bùn, phơi đáy ao dưới ánh nắng mặt trời từ 3-7 ngày. Ánh nắng giúp diệt khuẩn, diệt mầm bệnh và oxy hóa các chất độc trong bùn.Sau khi đáy ao được làm sạch và phơi khô sẽ được rải thêm một lớp vôi bột để khử trùng với định lượng từ 13 – 15 kg vôi bột/100m2 diện tích ao. Ngoài ra, có thể sử dụng chế phẩm vi sinh hoặc formalin để xử lý và khử trùng nước ao nuôi phòng bệnh cho cá. Khi có dịch bệnh xảy ra, cần cách ly những ao hồ có cá bị nhiễm bệnh bằng biện pháp ngăn chặn nguồn nước vào ao (đối với những ao cá đầu nguồn nước) và sử dụng các loại thuốc thú y, chế phẩm sinh học, vi sinh vật và hoá chất với từng loại bệnh đúng theo danh mục cấp phép của Bộ Nông nghiệp và môi trường. Để đàn cá sinh trưởng và phát triển khỏe mạnh, tạo được môi trường sống lý tưởng cho cá là điều kiện bắt buộc; nhiệt độ nước lý tưởng nhất để nuôi cá Dốc là khoảng từ 20 – 28 độ C, nguồn nước cung cấp cho cá cũng cần phải được lấy ở các khe suối có nguồn nước trong sạch, mát lạnh và có dòng chảy mạnh để đảm bảo dòng nước trong ao luôn được lưu thông như bên ngoài tự nhiên. Tất cả các ao đầm nuôi cá Dốc đều được trang bị máy tạo bọt khí để cung cấp oxi hàng ngày cho đàn cá phát triển khỏe mạnh.
Về quy trình ươm nuôi và chăm sóc cá giống Dốc cần tỉ mỉ, cẩn thận từng bước. Để có được cá Dốc con chất lượng bước đầu tiên phải chăm sóc tốt cho đàn cá bố mẹ từ khi trưởng thành đến giai đoạn sinh sản. Cá bố mẹ cần được bổ sung dinh dưỡng liên tục trong giai đoạn sinh sản. Vì là loài ăn tạp nên thức ăn cho cá Dốc bố mẹ cũngrất đa dạng, chủ yếu là cám chuyên dùng và các phụ phẩm chăn nuôi có thể tận dụng như: cỏ voi, bèo, thân chuối băm nhỏ, cá, tôm vụn,… Để đảm bảo nguồn nguyên liệu thức ăn cung cấp thường xuyên cho cá, ông Loan đã thầu lại diện tích đất của một số hộ bỏ hoang để trồng cỏ. Tuy nhiên đối với cá Dốc bố mẹ cần bổ sung kết hợp thêm các loại thức ăn công nghiệp với hàm lượng đạm từ 30 – 35% và các loại thức ăn tự chế khác để cá luôn có được lượng dưỡng chất cần thiết cho năng suất, sản lượng và chất lượng sinh sản cao.Sau khi cá mẹ đẻ trứng và ấp nở thành cá con, cá con sẽ được chuyển sang một ao nuôi riêng được chia thành nhiều ngăn. Giai đoạn đầu phát triển của cá con cần được chăm sóc đặc biệt với chế độ ăn khác nhau qua từng giai đoạn. Thức ăn cho cá con giai đoạn này chủ yếu là trứng luộc trộn cùng với cám; khi cá được 20 ngày tuổi với kích thước bằng đầu đũa thì có thể tách đàn đưa sang khu nuôi khác, ở giai đoạn này cá đã có thể ăn cám cục trộn với nước cho dẻo. Khi cá được 45 – 50 ngày tuổi sẽ được chuyển vào ao nuôi giống thương phẩm, lúc này cá giống đã lớn có kích thước từ 2 – 2,5 cm và có thể xuất bán; giai đoạn này cá đã có thể ăn được cám viên nổi mà không cần bổ sung thêm bất cứ loại thức ăn nào khác. Với thời gian từ 70 – 90 ngày, cá giống lớn có thể phát triển với kích thước từ 8 – 10 cm/con. Mật độ nuôi cá Dốc giốngthích hợp nhất là từ 5 – 7 con/m2 đối với cá giống nhỏvà giảm dần tùy theo từng giai đoạn phát triển của cá.Thời điểm thích hợp nhất để thả cá Dốc giống là vào dịp đầu Xuân khi thời tiết có nhiệt độ thích hợp (không quá lạnh cũng không quá nóng). Về chế độ phòng và chữa bệnh cho cá, vì được nuôi ở môi trường tự nhiên có nguồn nước suối lưu thông liên tục nên cá gần như rất hiếm khi mắc bệnh. Tuy nhiên để phòng tránh bệnh cho cá, hàng ngày cần chú ý theo dõi các hoạt động của các ao cá, nắm bắt kịp thời các hiện tượng bất thường để sớm phát hiện được các dấu hiệu nhiễm bệnh. Một số loại bệnh phổ biến trên đàn cá Dốc có thể phát hiện bằng mắt thường như: đỏ vảy, đỏ mồm, bạc lưng,…
Vì được nuôi bài bản, đúng cách nên cá giống của hộ gia đình ông Loan luôn khỏe mạnh, phát triển tốt được các trang trại chăn nuôi quanh vùng tìm mua tận nơi. Với đặc tính của loài cá Dốc là nuôi trên 8 năm mới bắt đầu sinh sản, tỷ lệ sống của cá giống cũng không quá cao (chỉ khoảng 50 – 55%), sản phẩm cá con giống làm ra cũng vì thế luôn trong tình trạng cầu vượt quá cung, sản lượng làm ra không đủ để cung cấp ra ngoài thị trường. Với khoảng hơn 200 cá bố mẹ, trung bình hàng năm cho sản lượng cá giống đạt từ 60.000 – 80.000 con/năm. Với giá bán trung bình từ 5.000 đồng/con, cho doanh thu đạt từ 300 – 400 triệu đồng/năm, trừ chi phí cho thu nhập từ 200 – 250 triệu đồng/năm. So với các loại cá khác trên cùng diện tích nuôi cho thu nhập cao hơn từ 2 – 2,5 lần.
Từ những thành công của các kết quả đạt được từ mô hình nuôi cá Dốc giống đặc sản tại xã Bá Thước cho thấy đây là hướng đi phù hợp, góp phần phát triển kinh tế nông nghiệp bền vững và nâng cao thu nhập cho người dân địa phương. Để phát huy hơn nữa hiệu quả của mô hình, đề nghị các cấp chính quyền, ngành nông nghiệp cần tiếp tục hỗ trợ người nuôi về vốn, kỹ thuật và đầu ra cho sản phẩm (khi sản xuất tập trung, quy mô lớn). Trong đó, trang bị kiến thức, kỹ thuật nuôi cá Dốc cho người dân đang là khâu cấp thiết nhất. Đồng thời, cần nhân rộng mô hình ra các vùng có điều kiện tương tự, gắn với xây dựng thương hiệu đặc sản cá Dốc Thanh Hóa, hướng tới phát triển kinh tế nông thôn theo hướng hàng hóa, bền vững và thân thiện với môi trường.
Mạnh Tùng