Hiệu quả mô hình trồng dứa và tái chế lá dứa thành sợi tơ xuất khẩu tại Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp và giống cây trồng Đồng Tâm, tỉnh Thanh Hóa

Hiệu quả mô hình trồng dứa và tái chế lá dứa thành sợi tơ xuất khẩu tại Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp và giống cây trồng Đồng Tâm, tỉnh Thanh Hóa

Tại Thanh Hóa, các mô hình sản xuất nông nghiệp kết hợp tái chế phế phụ phẩm trong nông nghiệp đang từng bước tăng lên cả về quy mô và chất lượng, góp phần tạo nên những sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao, bảo vệ môi trường. Tiêu biểu trong đó phải kể đến mô hình trồng dứa kết hợp tái chế lá dứa thành sợi tơ tại Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp và giống cấy trồng Đồng Tâm (gọi tắt là HTX DVNN) tại thôn Minh Lâm, xã Ngọc Liên.

(Vùng trồng dứa của HTX DVNN và giống cây trồng Đồng Tâm)

Xã Ngọc Liên là xã miền núi phía Tây tỉnh Thanh Hóa, có địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu phù hợp để phát triển các loại cây ăn quả trong đó có cây dứa với diện tích hơn 300 ha. Dứa là loại cây dễ trồng, chu kỳ sinh trưởng ngắn, có khả năng chịu hạn, ít bị sâu bệnh hại, thích nghi trồng trên đất bãi, đất triền đồi núi độ dốc trung bình, chi phí đầu tư ban đầu cũng không cao so với một số loại cây ăn quả khác. Với những lợi thế tự nhiên sẵn có đó, chính quyền xã cùng HTX DVNN và giống cây trồng Đồng Tâm đã chỉ đạo, vận động các hộ nông dân trong xã dồn điền đổi thửa tích tụ ruộng đất, chuyển đổi những cây trồng kém hiệu quả sang trồng dứa. Thay vì chỉ trồng vào chính vụ như trước kia thì giờ đây việc áp dụng khoa học kỹ thuật có thể phát triển cây dứa theo hướng thâm canh rải vụ, hình thành vùng chuyên canh tập trung theo hướng sản xuất hàng hoá, nâng cao hiệu quả kinh tế. Anh Đỗ Đồng Tâm – Giám đốc HTX DVNN và giống cây trồng Đồng Tâm cho biết: “HTX được thành lập năm 2022 với 51 thành viên, hiện HTX đang quản lý 50 ha diện tích trồng các giống dứa Queen và giống MD2 tại các thôn như: thôn Minh Lâm, thôn Minh Phong,…

Để phát triển vùng trồng, hỗ trợ nông dân đẩy mạnh sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng, gia tăng giá trị sản phẩm, HTX đã phối hợp với chính quyền địa phương, Công ty tổ chức các lớp chuyển giao khoa học kỹ thuật, hướng dẫn người dân quy trình canh tác theo hướng an toàn như: bố trí mật độ trồng phù hợp từ 50.000 – 55.000 cây/ha, khoảng cách trồng từ 30 – 35cm đối với giống dứa Queen, đối với giống dứa MD2 mật độ trồng từ 55.000 – 60.000 cây/ha, khoảng cách trồng từ 33 – 38 cm. Sử dụng màng phủ nông nghiệp để hạn chế cỏ dại, cải tạo đất trước khi canh tác bằng cách bón vôi, sử dụng chế phẩm sinh học Trichodema kết hợp phân chuồng ủ hoai mục để tiêu diệt mầm bệnh, làm tơi xốp và tăng hàm lượng dinh dưỡng trong đất. Sử dụng phân bón hữu cơ, phân vi sinh thay phân hóa học, phòng trừ bệnh bằng thuốc BVTV, chế phẩm sinh học, hạn chế sử dụng thuốc BVTV có nguồn gốc hóa học. Thực hiện các biện pháp thâm canh rải vụ, chia thành nhiều vùng, trồng thành nhiều đợt để xử lý từng thời điểm ra hoa, ra quả theo ý muốn. Trung bình thời gian sinh trưởng của cây từ 6 – 8 tháng khi cây đạt độ cao từ 80 – 100cm, số lá trưởng thành đạt từ 30 – 35 lá/cây, lá dày, to bản. Như vậy, sẽ đảm bảo được năng suất, sản lượng thu hoạch quả và lá cũng đạt yêu cầu về độ dài, độ già, cũng như lượng xơ được nhiều nhất phù hợp cho việc sản xuất sợi. Nhờ chăm sóc đúng quy trình kỹ thuật, cây dứa cho thu hoạch quanh năm đảm bảo nguồn cung cho thị trường, tránh tình trạng dứa chín đồng loạt dẫn đến việc dồn ứ khó tiêu thụ hoặc bị tư thương ép giá, năng suất đạt trung bình quả đạt từ 50 – 70 tấn/ha đối với giống dứa Queen, giống dứa MD2 đạt từ 70 – 90 tấn/ha, chất lượng quả đồng đều, sản phẩm sau thu hoạch được các Công ty nông sản xuất khẩu Tư Thành (Thanh Hóa), Công ty GARCO GREENFOOD (Lâm Đồng) thu mua với mức giá cao, ổn định từ 8.000 – 13.000 đồng/kg tùy loại, doanh thu đạt 500 – 600 triệu đồng/ha, cao gấp 5 – 6 lần so với những cây trồng truyền thống khác.

(Công đoạn sản xuất lá dứa thành sợi xơ dứa)

Đối với lá dứa, với việc sản xuất quanh năm như vậy sau mỗi đợt thu hoạch sẽ thải ra một lượng lá rất lớn. Theo tập quán truyền thống người nông dân thường vứt bỏ ngay tại ruộng, việc này sẽ tạo điều kiện để nấm, mầm bệnh phát triển trong đất nhất là vào mùa mưa kéo dài dễ gây bệnh cho cây dứa, hoặc sử dụng thuốc phun cho lá khô héo rồi đốt bỏ gây ô nhiễm môi trường không khí, nguồn đất, nước, hủy hoại hệ sinh thái, ảnh hưởng sức khỏe người lao động. Để giải quyết vấn đề này hướng tới nền sản xuất nông nghiệp an toàn, anh Tâm luôn trăn trở và tìm hiểu các phương pháp xử lý, đưa vào tái sử dụng và phát huy giá trị từ lá dứa. Năm 2024, được sự hỗ trợ của Viện Phát triển kinh tế hợp tác (thuộc Liên minh HTX Việt Nam) anh đã được tiếp cận với mô hình sản xuất sợi xơ dứa từ lá dứa, đồng thời xử lý bã thải từ lá dứa thành phân hữu cơ. HTX DVNN và giống cây trồng Đồng Tâm đã nhận được sự hỗ trợ về máy móc trang thiết bị tách xơ dứa cùng với quy trình sản xuất sợi xơ dứa từ lá dứa. Vì vậy, HTX đã triển khai xây dựng nhà xưởng, lắp đặt 04 máy tách xơ dứa, thu mua lá dứa của người dân để sản xuất tơ sợi. Lá dứa để sản xuất tơ sợi phải đảm bảo cả về hình thức và chất lượng, lá phải dài trên 40cm, không bị khô, dập nát dọc phần thân, đảm bảo không còn dư lượng phân bón, thuốc BVTV phù hợp cho sản xuất sợi dệt an toàn, đáp ứng yêu cầu khắt khe của thị trường nhập khẩu. Để làm xơ dứa, người nông dân sử dụng máy để tách phần xơ và bã thịt lá dứa, phần xơ thu được sẽ được rửa với nước và phơi khô. Sau đó lại tiếp tục làm sạch bụi bẩn một lần nữa và cho vào máy đánh lại lần cuối để thu được sợi thô thành phẩm. Quy trình này giúp tách xơ bằng công nghệ cơ học, hoàn toàn không dùng hóa chất tẩy rửa độc hại. Trung bình 1 ha thu được 60 tấn lá dứa, được HTX thu mua với giá từ 1.000 – 1.500 đồng/kg, như vậy ngoài thu nhập từ việc bán quả, người trồng dứa sẽ có thêm thu nhập 60 – 65 triệu đồng/ha từ bán lá dứa. 1 tấn lá dứa sau xử lý sẽ thu về được 15 – 16 kg xơ dứa, như vậy với 1 ha trồng dứa sẽ thu được 900 – 1000 kg thô. Năm 2025, HTX đã sản xuất sản được gần 800kg sợi/năm với giá bán 180.000 – 190.000 đồng/kg, giúp có thêm nguồn thu nhập phục vụ các hoạt động, dịch vụ của HTX.

Hiện nay, sợi thô của HTX được liên kết cung cấp cho Công ty TNHH NEXTEVO Việt Nam (Đồng Nai), Công ty LQC – TEXTILE (TP Hồ Chí Minh Minh) để sản xuất sợi dệt. Sản phẩm xơ dứa thô được nhập về Công ty sẽ được đưa vào dây chuyền phân tách xử lý qua các công đoạn để bông hoá xơ dứa thành sợi tơ bảo đảm có độ mảnh, khô ẩm và độ dài đồng nhất phù hợp dùng để kéo sợi, dệt vải. Vải làm từ sợi tơ lá dứa có nhiều ưu điểm đó là nguyên liệu an toàn, có màu trắng tự nhiên, có khả năng kháng khuẩn, thông thoáng, thấm hút mồ hôi, chống tia UV tốt, độ bền cao, tốt cho sức khoẻ người dùng, có khả năng phân hủy sinh học, thân thiện với môi trường. Khi được phối với các nguyên liệu khác như cotton, sợi tre… sẽ tạo ra được các sản phẩm mang tính ứng dụng cao trong nhiều lĩnh vực. Vì vậy vải làm từ sợi tơ lá dứa đang là xu hướng thời trang xanh được xuất khẩu sang nhiều quốc gia trên thế giới như Nhật Bản, Hàn Quốc, Anh, Mỹ, Thụy Sĩ,… Ngoài sản phẩm sợi xơ dứa, HTX còn được hỗ trợ quy trình, cung cấp vật tư, chế phẩm sinh học để xử lý, ủ bã thịt lá dứa thành nguồn phân bón hữu cơ cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng sinh trưởng phát triển tốt, giúp giải quyết một lượng lớn lá dứa bị bỏ đi sau thu hoạch giúp giảm chi phí sản xuất, tối ưu hiệu quả kinh tế.

Mô hình này tận dụng được tối đa nguồn lợi từ cây dứa như: thu hoạch quả, lá dứa được tận dụng để sản xuất sợi tơ phục vụ cho ngành dệt may, bã lá dứa tận dụng làm phân bón cho cây trồng tái quay vòng trong sản xuất giúp tăng năng suất từ 15 – 20%, giảm chi phí đầu vào (phân bón, thuốc BVTV, công lao động,…) từ 20 – 30%, nâng cao hiệu quả kinh tế tăng lên 1,5 – 2 lần so với sản xuất truyền thống. Doanh thu bình quân từ các hoạt động sản xuất, dịch vụ hàng năm của HTX đạt được từ 3 – 4 tỷ đồng/năm, tạo công ăn việc làm cho 5 lao động thường xuyên và trên 20 lao động thời vụ với mức lương 6 – 8 triệu đồng/người/tháng.

Mô hình trồng dứa và tái chế lá dứa thành sợi tơ xuất khẩu của HTX DVNN và giống cấy trồng Đồng Tâm là mô hình sản xuất nông nghiệp khép kín, tận dụng toàn bộ phế phẩm trong sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, giảm phát thải nhà kính, hướng tới xu hướng sản xuất bền vững và xu hướng tiêu dùng xanh, nâng cao giá trị sản phẩm và chất lượng cuộc sống.

Phương Thúy