Viện Nông nghiệp Thanh Hóa xây dựng mô hình trồng sắn thử nghiệm trên đất dốc tại xã Trung Lý, tỉnh Thanh Hóa
Thanh Hóa là địa phương có điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng tương đối phù hợp để phát triển cây sắn. Trong nhiều năm qua, cây sắn đã trở thành một trong những cây trồng quan trọng trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp của tỉnh với khả năng thích nghi rộng, chi phí đầu tư thấp, kỹ thuật canh tác không quá phức tạp, đã góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân, nhất là các hộ đồng bào với điều kiện đất đai canh tác khó khăn, trình độ thâm canh hạn chế. Hiện nay, cây sắn được trồng tại 85 xã trên địa bàn tỉnh với diện tích khoảng 13.561 ha, năng suất trung bình khoảng 17,5 tấn/ha, sản lượng cả năm đạt trên 220.000 tấn và hiện đang cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến như: Nhà máy tinh bột sắn Bá Thước, Nhà máy Nông – Lâm sản xuất khẩu Như Xuân, Nhà máy tinh bột sắn Phúc Thịnh, Nhà máy chế biến tinh bột sắn Luận Thành… Qua đó, góp phần xóa đói giảm nghèo và từng bước thay đổi diện mạo các vùng nông thôn miền núi.
Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích kinh tế mang lại, hiện nay việc canh tác sắn trên đất dốc theo phương thức truyền thống đang bộc lộ nhiều hạn chế: Tập quán độc canh, lạm dụng phân bón, thuốc BVTV, đã dẫn đến tình trạng xói mòn, rửa trôi khi có mưa lớn, làm đất bạc màu, chai cứng, suy giảm độ phì nhiêu và gây ô nhiễm môi trường đất. Cùng với đó, việc sử dụng các giống sắn cũ qua nhiều năm liền dẫn đến hiện tượng thoái hóa giống và gia tăng nguy cơ nhiễm sâu bệnh đặc biệt là bệnh khảm lá sắn – loại bệnh do virus gây ra với khả năng lây lan nhanh và khó kiểm soát, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất, hàm lượng tinh bột của sắn. Theo số liệu thống kê từ Sở Nông nghiệp và Môi trường năm 2025, diện tích sắn bị nhiễm bệnh khảm lá trên địa bàn tỉnh khoảng 940 ha chủ yếu trên 2 giống sắn hiện đang được trồng chính trên địa bàn tỉnh là KM94 và KM140 đã làm ảnh hưởng lớn đến nguồn nguyên liệu cung cấp cho các nhà máy chế biến đồng thời thiệt hại về kinh tế cho người nông dân.
Thực hiện Quyết định số 1115/QĐ-BNN-TT ngày 17/4/2024 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) về việc phê duyệt Đề án “Phát triển bền vững ngành hàng sắn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050”, UBND tỉnh Thanh Hóa đã ban hành Kế hoạch số 02/KH-UBND ngày 06/01/2026 về phát triển bền vững ngành hàng sắn trên địa bàn tỉnh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Trong đó, một trong những mục tiêu quan trọng là đến năm 2030, khoảng 50% diện tích trồng sắn sử dụng giống đạt tiêu chuẩn chất lượng, có năng suất, chất lượng cao, chống chịu sâu bệnh tốt, phù hợp điều kiện sinh thái của tỉnh và áp dụng quy trình canh tác bền vững.
Xuất phát từ thực tiễn nêu trên đã đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc đưa các giống sắn mới có khả năng kháng bệnh khảm lá, có năng suất, chất lượng cao, thích nghi với điều kiện đất đai, khí hậu trên địa bàn tỉnh cùng bộ hướng dẫn quy trình canh tác bền vững để bổ sung vào cơ cấu giống sắn và khuyến cáo nhân rộng trong sản xuất đại trà, thay thế dần các giống sắn cũ, góp phần đáp ứng nhu cầu nguyên liệu cung cấp cho các nhà máy chế biến tinh bột sắn, nâng cao hiệu quả kinh tế cho người sản xuất.
Viện nông nghiệp Thanh Hóa là đơn vị có nhiều hoạt động nghiên cứu, khảo nghiệm, chuyển giao kỹ thuật nhiều loại giống cây trồng qua đó góp phần nâng cao giá trị kinh tế ngành nông nghiệp. Năm 2025, Viện đã triển khai: “Xây dựng mô hình thử nghiệm một số biện pháp kỹ thuật canh tác sắn bền vững trên đất dốc tại khu vực miền núi tỉnh Thanh Hóa” với 2 giống sắn HN1 và HN5, là sản phẩm nghiên cứu của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Duyên hải Nam Trung Bộ (ASISOV), được lai tạo với khả năng kháng bệnh khảm lá virus nhằm hoàn thiện quy trình kỹ thuật canh tác sắn bền vững trên đất dốc tại khu vực miền núi tỉnh Thanh Hóa.
Mô hình được khảo sát, lựa chọn thực hiện tại xã Trung Lý, tỉnh Thanh Hoá với điều kiện đất đai xám bạc màu do xói mòn và quá trình canh tác lâu năm không cải tạo đất, độ dốc 15-20o, nguồn nước phụ thuộc vào nước mưa, diện tích thực hiện là 2,0 ha tập trung tại 1 hộ dân của anh Vàng Giống Của, thôn Cà Rà. Khi tham gia vào mô hình, gia đình anh được cấp phát giống, phân bón, được cán bộ kỹ thuật hướng dẫn kỹ thuật và theo dõi trong suốt quá trình triển khai thực hiện.

Hộ dân được cấp phát giống sắn, phân bón
Biện pháp canh tác kỹ thuật được áp dụng trong mô hình: (1) Đối với khâu làm đất: Không cày xới để hạn chế tối đa xói mòn, rửa trôi đất. Tiến hành cuốc hố theo đường đồng mức để bón phân lót và trồng hom. Kích thước hố 30x30x30 cm, bón phân lót sau đó lấp một lớp đất dày 10-15 cm lên trên. Các hố này giúp giữ đất, giữ ẩm và ngăn dòng chảy mặt khi mưa; (2) Kỹ thuật trồng: Trồng nằm (đặt hom sắn nằm dưới đất) nhằm giúp rễ củ phân bố đều. Đặt hom nằm dưới hốc đã lấp phân (gốc hom quay về một phía, phần ngọn hom nghiêng theo hướng sườn dốc), sau đó lấp đất phủ kín hom, sâu 7-10 cm; (3) Bón phân, chăm sóc: Bón lót vùi sâu, bón thúc bón vào rãnh cách gốc 10-15 cm kết hợp xới gốc, làm cỏ sau đó lấp đất lại giúp giữ phân, tránh bị rửa trôi.

Cán bộ kỹ thuật hướng dãn người dân triển khai đào hố, bón phân lót
Sau khi trồng, giống sắn HN1 và HN5 được các cán bộ kỹ thuật của Viện theo dõi, đánh giá về các chỉ tiêu về sinh trưởng, phát triển định kỳ 15 ngày/lần, trong suốt thời gian thực hiện mô hình, từ 45 đến 210 ngày bao gồm: Các chỉ tiêu cụ thể về chiều cao, đường kính thân, đường kính tán và tình hình phát triển sâu bệnh hại. Kết quả cho thấy: Giống sắn HN5 thể hiện nhiều ưu thế trong điều kiện canh tác trên đất dốc so với giống HN1. Cụ thể, giống HN5 có đường kính thân lớn, chiều cao cây ở mức trung bình, từ đó nâng cao khả năng chống đổ; khả năng phát triển tán rộng, góp phần tăng khả năng che phủ bề mặt đất, hạn chế xói mòn và rửa trôi dinh dưỡng. Bên cạnh đó, qua thực tế theo dõi, HN5 cho thấy khả năng chống chịu sâu bệnh tốt hơn, sinh trưởng ổn định. Do đó, giống HN5 phù hợp với điều kiện canh tác sắn trên đất dốc, có tiềm năng trong sản xuất theo hướng bền vững;


Giống sắn HN5 (bên trái) và giống sắn HN1 (bên phải)
thời điểm 05 tháng sau trồng
Ngoài ra để lựa chọn loại phân bón hữu cơ phù hợp trong điều kiện canh tác trên đất dốc, mô hình thử nghiệm dùng 3 loại phân bón hữu cơ khác nhau trong giai đoạn bón lót: (1) Sử dụng phân chuồng hoai mục được xử lý bằng men ủ vi sinh; (2) Phân hữu cơ dạng viên; (3) Phân hữu cơ khoáng. Mục tiêu nhằm đánh giá ảnh hưởng của các loại phân hữu cơ đến sinh trưởng phát triển của giống sắn HN5. Kết quả cho thấy, trong điều kiện đất dốc bón lót bằng phân hữu cơ dạng viên cho hiệu quả cao nhất. Cây sắn sinh trưởng tốt và ổn định, chiều cao cây tăng nhanh, đường kính thân lớn, đồng thời đường kính tán phát triển rộng, góp phần nâng cao diện tích quang hợp và tăng khả năng che phủ đất. Qua thực tế theo dõi, bón phân hữu có dạng viên còn cho thấy khả năng chống chịu sâu bệnh tốt hơn, cây sinh trưởng khỏe, ít bị ảnh hưởng bởi các đối tượng gây hại. Như vậy, bón phân hữu cơ dạng viên là biện pháp phù hợp và hiệu quả trong canh tác sắn trên đất dốc, góp phần nâng cao sinh trưởng, tính ổn định và hướng tới sản xuất bền vững.
Đối với hiệu quả của việc áp dụng biện pháp canh tác kết hợp bón phân hữu cơ ảnh hưởng đến tính chất lý hóa học của đất. Sau khi thực hiện mô hình, cán bộ kỹ thuật của Viện đã tiến hành lấy mẫu đất để phân tích. Kết quả phân tích đất trước và sau khi triển khai cho thấy, các chỉ tiêu đất có sự biến động theo hướng tích cực, các biện pháp kỹ thuật áp dụng đã cải thiện rõ rệt tính chất lý – hóa học của đất, nâng cao độ phì nhiêu và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho sinh trưởng, phát triển của cây trồng trong giai đoạn tiếp theo.
Đối với hiệu quả sản xuất, năng suất thực tế sau khi thực hiện mô hình của giống HN5 đạt 33 tấn/ha cao hơn từ 1,5-2 lần so với năng suất trung bình hiện nay của cây sắn là 17,5 tấn/ha, ngoài ra hàm lượng tinh bột đạt trên 25% rất phù hợp với ngành công nghiệp chế biến tinh bột sắn. Từ đó có thể thấy, mô hình trồng sắn thử nghiệm trên đất dốc tại xã Trung Lý, tỉnh Thanh Hóa do Viện xây dựng, hướng dẫn thực hiện có ý nghĩa thực tiễn vô cùng quan trọng trong việc chuyển dịch, lựa chọn giống sắn mới và đưa quy trình canh tác bền vững vào sản xuất. Mô hình đã cho thấy, biện pháp canh tác sắn bền vững trên đất dốc miền núi tỉnh Thanh Hóa cần được xây dựng trên cơ sở lựa chọn giống sắn HN5 kết hợp với sử dụng phân bón hữu cơ dạng viên, cùng với các biện pháp kỹ thuật như trồng theo đường đồng mức, che phủ đất và quản lý dinh dưỡng hợp lý. Hướng canh tác này không chỉ giúp nâng cao khả năng sinh trưởng, tăng khả năng chống chịu với địa hình đất dốc, giảm thiểu tình trạng sâu bệnh hại đối với cây sắn, mà còn góp phần bảo vệ đất, giảm xói mòn và nâng cao hiệu quả sản xuất lâu dài, phù hợp với định hướng phát triển nông nghiệp bền vững tại khu vực miền núi tỉnh Thanh Hoá.
Từ những kết quả ban đầu mà mô hình đã đạt được, trong thời gian tới, Viện sẽ ban hành hướng dẫn kỹ thuật canh tác sắn bền vững trên đất dốc, nhằm nhân rộng mô hình canh tác sắn HN5 kết hợp phân hữu cơ dạng viên tại các vùng đất dốc có điều kiện tương tự. Từ đó, giúp người dân địa phương thay đổi biện pháp canh tác, phát triển sản xuất sắn theo hướng bền vững, nâng cao hiệu quả khai thác đồng thời bảo vệ tài nguyên đất.
Bùi Thám