Hiệu quả mô hình nuôi tôm càng xanh xen canh trên đất lúa theo hướng VietGap tại phường Quang Trung, tỉnh Thanh Hoá.
Những năm gần đây, mô hình nuôi tôm kết hợp trồng lúa tại các vùng chiêm trũng trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa ngày càng phát triển và chiếm ưu thế hơn so với các mô hình chuyên trồng lúa hay nuôi trồng thủy sản truyền thống nhờ những giá trị và hiệu quả kinh tế mang lại. Tại phường Quang Trung, mô hình sản xuất nông nghiệp tiêu biểu phải kể đến mô hình nuôi tôm càng xanh xen lúa theo hướng Vietgap của Tổ hợp tác nuôi tôm càng xanh phường Quang Trung, tỉnh Thanh Hóa góp phần nâng cao thu nhập cho người dân, phát triển nghề nuôi trồng thủy sản theo hướng bền vững và bảo vệ môi trường.

(Mô hình nuôi tôm càng xanh xen canh trên đất lúa)
Xứ đồng Mã Chày thuộc Tổ dân phố 1, phường Quang Trung là vùng đất chiêm trũng nằm sát sông Tam Điệp, giai đoạn trước người dân chủ yếu thâm canh lúa nước tuy nhiên do đất bị nhiễm phèn chua nên năng suất thấp hiệu quả kinh tế không cao, không đáp ứng được yêu cầu nâng cao thu nhập cho người dân. Thực hiện chủ trương dồn điền đổi thửa, chính quyền địa phương cùng người dân nơi đây đã tích cực phát triển các mô hình sản xuất mới nhằm chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp nâng cao năng suất trên một diện tích. Từ thực tế đó, năm 2022 mô hình nuôi tôm càng xanh xen canh trên đất lúa được triển khai thực hiện. Từ mô hình thử nghiệm ban đầu đến năm 2025, Tổ hợp tác nuôi tôm càng xanh phường Quang Trung chính thức được thành lập với với 3 thành viên, tổng vốn góp 1 tỷ đồng với diện tích nuôi 20.000 m2 trong đó có 10.000 m2 trồng lúa và 10.000 m2 nuôi tôm. Sản phẩm tôm càng xanh của Tổ hợp tác đã được cấp giấy chứng nhận VietGAP không chỉ đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, an toàn thực phẩm mà còn nâng cao uy tín, giá trị sản phẩm đến với khách hàng.
Theo ông Trần Xuân Hạnh, Tổ trưởng Tổ hợp tác cho biết, để hỗ trợ nông dân sản xuất theo hướng an toàn bền vững, Hội nông dân tỉnh Thanh Hóa đã tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật, hướng dẫn quy trình nuôi, phòng chống dịch bệnh, sử dụng thức ăn an toàn và quản lý môi trường ao nuôi. Ngoài tham gia các lớp tập huấn, các thành viên còn được tổ chức cho tham gia học tập kinh nghiệm các mô hình sản xuất có hiệu quả tại một số tỉnh ngoài. Đúc kết kinh nghiệm từ các chuyến tham quan học tập, các lớp tập huấn kỹ thuật đã giúp ông hiểu hơn về mô hình nuôi tôm càng xanh xen canh cây lúa, từ đó ông cùng các thành viên Tổ hợp tác đã mạnh dạn đầu tư vào sản xuất từng bước tiến hành cải tạo ruộng lúa thành ao nuôi tôm xen canh trồng lúa.

Sản phẩm tôm càng xanh nuôi xen canh đất lúa
Khu vực ao nuôi được thiết kế gồm ao lắng, ao nuôi, ao lọc và dồn chất thải, mương dẫn nước,… thuận tiện cho sản xuất. Hệ thống mương bao quanh được thiết kế để đảm bảo cho việc dẫn và thoát nước, mương được đào cách bờ 0,5m để tránh xói lở từ bờ xuống mương, mương dốc dần về phía cống. Bờ ao chắc chắn, mặt bờ rộng 2-3m, trải bạt để ngăn xói mòn và rò rỉ, hạn chế thiên địch. Trong ao nuôi, khu vực nuôi tôm sâu 1,5 m, cách mặt ruộng 0,7 – 0,8 m, xung quanh ruộng lúa có đường đi để tôm dễ dàng di chuyển giữa ruộng và ao. Ao nuôi cần đảm bảo các điều kiện: nguồn nước không bị ô nhiễm, tỉ lệ thích hợp thường là 50% diện tích trồng lúa, 50% diện tích nuôi tôm. Trong ao lắp camera theo dõi tôm, bố trí hệ thống quạt nước để cung cấp oxy, kết nối với điện thoại thông minh để hẹn giờ quạt nước và điều khiển tự động từ xa hệ thống máy phục vụ nuôi tôm, sử dụng hệ thống cảm biến cập nhật môi trường, nhiệt độ trong nước nhờ đó để có các biện pháp điều chỉnh phù hợp cho môi trường sống của tôm. Để tôm đạt năng suất, chất lượng cần chú ý môi trường ao nuôi sạch, thường xuyên kiểm tra độ pH nhất là vào mùa mưa môi trường nước thường thừa axit, cần duy trì độ pH ở mức tiêu chuẩn từ 7,5 – 8,5, nếu pH vượt ngưỡng cho phép cần xử lý bằng men vi sinh, nước vôi pha loãng, vitamin C…
Tôm càng xanh được nuôi trong môi trường nước ngọt, một năm tôm được nuôi 2 vụ, tuy nhiên vụ chính vào mùa hè, vụ này tôm sẽ sinh trưởng và phát triển tốt hơn nhờ thức ăn tự nhiên từ ruộng lúa. Tôm bắt đầu được thả vào ao nuôi vào tháng 2 – 3 trong năm, đây là lúc ruộng lúa bắt đầu bén rễ (2 – 4 tuần tuổi). Tôm giống được nhập từ Công ty giống Hưng Phú (Cần Thơ), sau khi con giống được nhập về sẽ được nuôi ương trong 3 tháng với mật độ 10 con/m2, trọng lượng đạt 50 con/kg. Sau đó chuyển sang ao tôm lúa nuôi thành phẩm với mật độ thích hợp 3 – 5 con/m2, sau thu hoạch trọng lượng đạt 15 – 18 con/kg. Tôm càng xanh là loài thủy sản ăn chìm ở tầng đáy, ăn tạp nên xác định lượng thức ăn phù hợp là yếu tố rất quan trọng. Nếu cho ăn dư thừa sẽ gây ô nhiễm môi trường nước, còn thiếu thức ăn tôm có thể ăn lẫn nhau. Giai đoạn đầu, cho ăn bằng sàng để dễ theo dõi và điều chỉnh. Lượng thức ăn được điều chỉnh theo trọng lượng tôm, trung bình cứ trong một vụ nuôi 1kg tôm sẽ tiêu thụ khoảng 20kg cám. Trong hai đến ba tháng đầu sử dụng thức ăn công nghiệp có hàm lượng protein 35 – 40% cho tôm, sau đó chuyển sang nuôi bằng thức ăn tự nhiên được chế biến từ các loại cá tạp sẵn có tại địa phương như cá rô phi, cá mè, cá trôi… nấu cùng cám ngô, bổ sung men vi sinh được làm từ cám gạo, bã bia, rỉ mật mía,… theo định lượng sau đó phơi khô làm thức ăn cung cấp quanh năm. Việc tự làm thức ăn để chủ động nguồn thức ăn cho tôm giúp bổ sung đầy đủ dinh dưỡng, khoáng chất, hạn chế dịch bệnh cho tôm đồng thời giúp giảm chi phí đầu vào, tăng hiệu quả kinh tế.
Trong thời gian tôm lột cần kiểm tra độ cứng vỏ, mức độ lột đồng đều nếu chưa đạt yêu cầu cần bổ sung vitamin, khoáng chất kịp thời. Sau mỗi vụ thu hoạch, ao nuôi cần được hút bùn, xử lý bằng vôi bột để cải tạo môi trường. Đối với dịch bệnh thường gặp trên tôm càng xanh là bệnh đóng rong trên thân tôm gây di chuyển khó khăn, bệnh này chủ yếu do nguồn nước không đảm bảo gây nên, vì vậy cần thay nước định kỳ sau 10 – 15 ngày, kết hợp xử lý bằng men vi sinh, chế phẩm sinh học để loại bỏ bớt rong rêu, vi khuẩn gây bệnh. Đối với ruộng lúa hạn chế tối đa việc phun thuốc BVTV ảnh hưởng đến tôm. Nhờ thực hiện đúng quy trình kỹ thuật được khuyến cáo, các vụ thu hoạch đều cho năng suất sản lượng cao, mỗi năm ông xuất bán khoảng 1.600 kg tôm với giá bán 300.000 – 320.000 đồng/kg cùng với 1,5 tấn lúa/năm với giá bán 8.000 – 9.000 đồng/kg. Doanh thu đạt 450 – 500 triệu đồng/năm, sau khi trừ chi phí chiếm khoảng 30% cho lợi nhuận đạt trên 300 triệu đồng/năm, cao gấp 5 lần so với trồng lúa. Đầu ra của sản phẩm ổn định, sau mỗi lần thu hoạch đều được thương lái thu mua và cung cấp cho các nhà hàng, điểm bán thực phẩm an toàn trong và ngoài tỉnh như Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Phòng,…
Qua các vụ sản xuất cho thấy, mô hình nuôi tôm càng xanh xen cây lúa đem lại nhiều ưu điểm đồng thời có tác động tích cực tới môi trường, mô hình nuôi tuần hoàn và tạo mối quan hệ cộng sinh hiệu quả. Tôm ăn rong rêu, sục bùn, chất thải của tôm là nguồn phân bón tự nhiên giúp lúa sinh trưởng phát triển tốt hơn, ngược lại cấy lúa trên đất nuôi tôm giúp cải tạo môi trường nước, cung cấp môi trường sống sạch cho tôm, là nơi trú ẩn cho tôm trong thời kỳ lột xác, tạo nguồn thức ăn tự nhiên rất tốt cho tôm, giảm mầm bệnh. Mô hình này được đánh giá là mô hình sản xuất nông nghiệp tuần hoàn, không phát thải, không sử dụng bất kỳ một loại phân bón, thuốc BVTV hóa học, các đối tượng cây trồng vật nuôi có mối quan hệ cộng sinh hiệu quả, tận dụng triệt để diện tích mặt nước ngập trũng vốn là thách thức canh tác lúa truyền thống để tạo ra hệ sinh thái lúa – tôm hài hoà. Sự kết hợp nuôi tôm càng xanh trong ruộng lúa không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế cao mà còn tạo ra sản phẩm tôm, lúa sạch. Thời gian tới, tổ dự kiến mở rộng quy mô, tạo sản lượng tập trung để tham gia các chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn, đưa sản phẩm vào siêu thị và hệ thống phân phối lớn.
Mô hình sản xuất tôm càng xanh xen canh trên diện tích lúa sạch, an toàn của THT nuôi tôm càng xanh phường Quang Trung đã được khẳng định là mô hình sản xuất tạo ra sản phẩm sinh thái – hữu cơ chất lượng, giá trị cao, được thị trường ưa chuộng. Đây là mô hình kết hợp nhiều đối tượng, nâng cao giá trị trên cùng diện tích đất, không gây ô nhiễm môi trường, thích ứng biến đổi khí hậu.
Phương Thuý