Hiệu quả từ mô hình nuôi cá Hồng Mỹ tại xã Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Hiệu quả từ mô hình nuôi cá Hồng Mỹ tại xã Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Trong những năm gần đây, ngành nuôi trồng thủy sản tại tỉnh Thanh Hóa đang có nhiều chuyển biến tích cực theo hướng nâng cao giá trị kinh tế, đa dạng hóa đối tượng nuôi và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Bên cạnh các loại thủy sản truyền thống như cá trắm, cá chép, cá rô phi hay các loại tôm nước lợ, nhiều hộ dân đã mạnh dạn đưa vào nuôi những giống thủy sản mới có giá trị kinh tế cao, phù hợp với nhu cầu thị trường. Xã Nga Sơn là địa phương ven biển, có sông Lèn đổ ra biển hình thành vùng đất tự nhiên có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển nghề nuôi trồng thủy sản. Một trong những mô hình nuôi trồng thủy sản tiêu biểu tại địa phương đang cho hiệu quả rõ nét là mô hình nuôi cá Hồng Mỹ của gia đình ông Trần Văn Sơn tại thôn Đô Lương, xã Nga Sơn, Thanh Hóa.

Cá Hồng Mỹ (tên khoa học: Sciaenops ocellatus) là một loài cá biển có môi trường sống đa dạng, tập trung ở các cửa sông (nước lợ, nước mặn), phân bố chủ yếu ở khu vực ôn đới và cận nhiệt đới. Cá Hồng Mỹ có thân hình thuôn dài, màu ánh bạc phớt hồng và đặc điểm nhận dạng nổi bật nhất là có chấm đen ở phần đuôi. Đây là loài cá có giá trị dinh dưỡng cao, thịt cá trắng, dai, thơm ngon và đặc biệt là không có xương dăm. Trên thị trường, cá Hồng Mỹ luôn nằm trong danh mục hải sản cao cấp, được các nhà hàng, khách sạn và người tiêu dùng đặc biệt ưa chuộng.

Trước đây, gia đình ông Trần Văn Sơn chủ yếu nuôi các loại cá truyền thống như cá trắm cỏ, cá mè, cá chép theo hình thức quảng canh. Tuy nhiên, hiệu quả kinh tế không cao do giá cả bấp bênh, tốc độ sinh trưởng chậm và chi phí thức ăn cao. Sau quá trình tìm hiểu thị trường và tham quan nhiều mô hình nuôi trồng thủy sản hiệu quả cả trong và ngoài tỉnh; nắm bắt được xu hướng tiêu dùng hướng tới các thực phẩm sạch, an toàn và giàu dinh dưỡng, ông Trần Văn Sơn, thôn Đô Lương, xã Nga Sơn đã quyết định cải tạo lại toàn bộ 1 ha ao đầm của gia đình để tiên phong thả nuôi giống cá Hồng Mỹ. Với tổng diện tích 1 ha ao nuôi, ông Sơn chia thành 3 khu ao nuôi thả phù hợp theo từng giai đoạn phát triển của cá; trong đó, 2 ao nuôi cá trong giai đoạn đầu (nuôi ương) và giữa (nuôi vỗ) có diện tích từ 1.000 – 2.000 m²/ao và 1 ao nuôi cá thương phẩm giai đoạn cuối trước khi xuất bán có diện tích hơn 6.000 m²/ao nuôi.

Cá Hồng Mỹ thương phẩm.

Cá Hồng Mỹ có tốc độ sinh trưởng nhanh, khả năng thích nghi tốt với nhiều môi trường nước, sức đề kháng cao, ít dịch bệnh nếu được chăm sóc đúng kỹ thuật. Ban đầu, việc chuyển đổi sang nuôi cá Hồng Mỹ cũng gặp không ít khó khăn do đây là đối tượng nuôi còn khá mới tại địa phương. Tuy nhiên, nhờ chủ động học hỏi kỹ thuật, tham gia các lớp tập huấn về nuôi trồng thủy sản và áp dụng đúng quy trình kỹ thuật, mô hình của gia đình ông Sơn dần đi vào ổn định và cho hiệu quả kinh tế rõ rệt.

Theo ông Trần Văn Sơn, để nuôi cá Hồng Mỹ đạt hiệu quả cao thì khâu chuẩn bị ao nuôi đóng vai trò hết sức quan trọng. Ao nuôi phải đảm bảo nguồn nước sạch, chủ động cấp và thoát nước, hạn chế ô nhiễm môi trường. Trước mỗi vụ nuôi, ao được tháo cạn nước, tiến hành nạo vét lớp bùn đáy, phát quang bờ ao và xử lý môi trường kỹ lưỡng. Bờ ao được gia cố chắc chắn nhằm tránh rò rỉ và hạn chế thất thoát cá trong mùa mưa bão. Độ sâu mực nước trong ao thường duy trì từ 1,5 – 2 m để đảm bảo nhiệt độ ổn định và tạo môi trường sinh trưởng thuận lợi cho cá. Sau khi cải tạo ao, gia đình sử dụng vôi bột để khử trùng đáy ao với lượng phù hợp (10 – 15 kg/100m²) nhằm tiêu diệt mầm bệnh và ổn định độ pH của nước. Ao được phơi đáy từ 5 – 7 ngày trước khi cấp nước mới vào. Nguồn nước cấp vào ao được lấy từ những thời điểm đỉnh triều, nước trong và ít tạp chất. Để đảm bảo an toàn tuyệt đối, nước phải chạy qua hệ thống túi lọc bằng lưới dày nhằm loại bỏ trứng cá tạp và ấu trùng mang bệnh. Bên cạnh đó, ông Sơn cũng đặc biệt quan tâm đến việc gây màu nước tự nhiên bằng chế phẩm sinh học và phân hữu cơ đã qua xử lý. Điều này giúp tạo nguồn thức ăn tự nhiên ban đầu cho cá, đồng thời duy trì hệ vi sinh có lợi trong ao nuôi.

Con giống là yếu tố quyết định lớn đến tỷ lệ sống và tốc độ phát triển của cá Hồng Mỹ. Vì vậy, ông Sơn chủ động liên hệ đấu mối với các đơn vị cung cấp giống uy tín trong tỉnh như: công ty Cổ phần Đầu tư và phát triển nông nghiệp Thanh Hóa (địa chỉ: phường Quảng Phú, Thanh Hóa), đảm bảo cá khỏe mạnh, đồng đều kích cỡ, không dị hình, không xây xát và có phản xạ bơi lội nhanh. Trước khi thả giống, cá được tắm nước muối loãng để sát khuẩn, hạn chế nguy cơ nhiễm bệnh. Thời điểm thả giống thường được lựa chọn vào sáng sớm hoặc chiều mát nhằm giảm sốc nhiệt cho cá. Mật độ thả nuôi được tính toán hợp lý để đảm bảo môi trường ao luôn thông thoáng và đủ oxy hòa tan. Mật độ thả cá được chia làm 3 giai đoạn và được nuôi thả trong 3 ao riêng biệt để thuận tiện trong việc chăm sóc, phòng chống dịch bệnh: Giai đoạn đầu mật độ nuôi từ 3 – 5 con/m² (cá 10 – 15 cm, trọng lượng từ 20 – 50 g/con); Giai đoạn giữa mật độ duy trì từ 2 – 3 con/m² (cá có trọng lượng từ 300 – 500 g/con); Giai đoạn cuối mật độ nuôi từ 1 – 2 con/m² (cá có trọng lượng từ 0,8 – 2,0 kg/con). Trong quá trình nuôi, phải thường xuyên theo dõi hoạt động bắt mồi, tốc độ sinh trưởng và khả năng thích nghi của cá để điều chỉnh chế độ chăm sóc phù hợp.

Theo kinh nghiệm thực tế của ông Sơn, cá Hồng Mỹ là đối tượng nuôi có tốc độ tăng trưởng khá nhanh nếu được cung cấp đầy đủ dinh dưỡng. Thức ăn sử dụng chủ yếu là thức ăn công nghiệp viên nổi có hàm lượng đạm phù hợp kết hợp với nguồn thức ăn tự nhiên như: tôm, tép, cá con,… nhằm đảm bảo chất lượng thịt cá. Hàm lượng đạm (protein) trong thức ăn cho cá được thay đổi theo từng giai đoạn phát triển của cá. Giai đoạn cá giống dưới 100 g/con cần chọn thức ăn có hàm lượng protein từ 42 – 45%; giai đoạn cá 100 – 500 g/con hàm lượng protein từ 38 – 40% và 32 – 36% protein đối với giai đoạn cá trên 500 g/con đến thu hoạch. Trong giai đoạn đầu, cá được cho ăn từ 2 – 3 lần/ngày với lượng thức ăn vừa đủ để tránh dư thừa gây ô nhiễm môi trường nước. Khi cá lớn hơn, lượng thức ăn được điều chỉnh theo trọng lượng đàn cá và điều kiện thời tiết. Một trong những yếu tố quan trọng được gia đình đặc biệt chú ý là quản lý môi trường ao nuôi. Định kỳ, ao được thay nước và sử dụng chế phẩm sinh học để xử lý đáy ao, giảm khí độc và hạn chế sự phát sinh của vi khuẩn gây bệnh. Các chỉ tiêu môi trường như độ PH, nhiệt độ, màu nước và hàm lượng oxy hòa tan luôn được kiểm tra thường xuyên. Ngoài ra, vào những thời điểm giao mùa hoặc thời tiết thay đổi thất thường, ông Sơn bổ sung thêm vitamin, khoáng chất vào thức ăn nhằm tăng sức đề kháng cho cá. Cá Hồng Mỹ có sức đề kháng khá tốt, khả năng thích nghi rộng với môi trường nước lợ và nước mặn. Tuy nhiên, trong điều kiện nuôi mật độ cao hoặc môi trường ao nuôi biến động, cá vẫn có thể mắc một số bệnh do ký sinh trùng, vi khuẩn và nấm gây ra. Nếu ao cá bị nhiễm bệnh, cần cách ly các cá thể bị bệnh nhằm tránh lây lan, sử dụng các loại thuốc kháng sinh, thuốc đặc trị theo hướng dẫn của cơ quan chuyên môn. Nhờ thực hiện tốt các biện pháp phòng bệnh tổng hợp nên trong nhiều năm nuôi, đàn cá phát triển ổn định, tỷ lệ hao hụt thấp. Sau khoảng thời gian nuôi từ 9 – 10 tháng, cá đạt trọng lượng trung bình khoảng từ 1,5 – 2 kg/con là có thể xuất bán thương phẩm. Cá Hồng Mỹ thương phẩm có màu sắc đẹp, thịt chắc, vị ngọt tự nhiên nên được nhiều thương lái và nhà hàng thu mua với giá cao.

Mô hình nuôi cá Hồng Mỹ tại xã Nga Sơn, Thanh Hóa.

Với diện tích nuôi 1 ha, mô hình của gia đình ông Trần Văn Sơn đạt sản lượng khoảng 5 tấn cá thương phẩm mỗi năm, cao hơn so với một số loại cá nước ngọt khác trước đây, sản lượng trung bình đạt 8 tấn/năm. Với giá bán trung bình khoảng 80.000 – 90.000 đồng/kg tùy từng thời điểm, tổng doanh thu đạt từ 640 – 720 triệu đồng/năm. Sau khi trừ các khoản chi phí như con giống, thức ăn, cải tạo ao, điện nước và nhân công, lợi nhuận trung bình đạt từ 250 triệu đồng/năm. Đặc biệt, đầu ra của cá Hồng Mỹ tương đối ổn định do nhu cầu thị trường ngày càng tăng. So với nuôi cá truyền thống như cá trắm, cá mè hay cá chép, hiệu quả kinh tế của cá Hồng Mỹ cao hơn rõ rệt. Nếu như các loại cá truyền thống thường có giá bán dao động từ 40.000 – 70.000 đồng/kg thì cá Hồng Mỹ đạt mức giá gần gấp rưỡi. Ngoài ra, thời gian nuôi không quá dài nhưng giá trị thu được trên đơn vị diện tích lại cao hơn đáng kể. Điều này đặc biệt phù hợp với các hộ nuôi có quy mô vừa và nhỏ tại địa phương. Không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế cho gia đình, mô hình nuôi cá Hồng Mỹ của ông Trần Văn Sơn còn tạo động lực để nhiều hộ dân trong khu vực tìm hiểu và học tập kinh nghiệm. Thời gian qua, đã có nhiều hộ đến tham quan mô hình nhằm tìm kiếm hướng chuyển đổi sản xuất phù hợp.

Có thể thấy rằng, mô hình nuôi cá Hồng Mỹ tại xã Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa là minh chứng rõ nét cho sự mạnh dạn đổi mới trong phát triển kinh tế nông nghiệp của người dân địa phương. Từ việc tận dụng hiệu quả diện tích mặt nước, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất đến việc đáp ứng nhu cầu thị trường, mô hình đã mở ra hướng phát triển mới đầy tiềm năng cho ngành nuôi trồng thủy sản. Trong thời gian tới, nếu tiếp tục được nhân rộng và hỗ trợ đúng hướng, mô hình nuôi cá Hồng Mỹ hứa hẹn sẽ trở thành một trong những hướng phát triển kinh tế hiệu quả, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân xã Nga Sơn nói riêng và thúc đẩy ngành thủy sản của tỉnh Thanh Hóa nói chung phát triển theo hướng bền vững, hiện đại và giá trị cao.

Mạnh Tùng