Hiệu quả từ mô hình liên kết sản xuất lúa nếp Nhung Đá theo hướng hữu cơ tại phường Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa.

Hiệu quả từ mô hình liên kết sản xuất lúa nếp Nhung Đá theo hướng hữu cơ tại phường Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa.

Trong những năm gần đây, nhu cầu sử dụng đối với các loại lúa nếp chất lượng cao trên thị trường không ngừng gia tăng. Đặc biệt, những giống lúa nếp bản địa có chất lượng vượt trội, được sản xuất theo hướng hữu cơ đang trở thành lựa chọn ưu tiên của nhiều khách hàng, doanh nghiệp và cơ sở chế biến thực phẩm. Tại phường Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa, mô hình liên kết sản xuất lúa nếp Nhung Đá theo hướng hữu cơ bước đầu đã và đang mang lại những hiệu quả rõ rệt cả về kinh tế, xã hội và môi trường. Đây được xem là hướng đi đúng đắn, góp phần nâng cao thu nhập cho người nông dân, đồng thời khẳng định giá trị của sản phẩm nông nghiệp địa phương trên thị trường.

Hạt gạo nếp Nhung Đá nổi tiếng với hạt gạo tròn, dẻo, thơm, chất lượng cao.

Lúa nếp Nhung Đá (hay còn gọi là nếp Nhung) là giống lúa truyền thống có nguồn gốc tại các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ và được du nhập trồng rải rác ở một số địa phương tại các tỉnh Bắc Trung Bộ như: Thanh Hóa, Nghệ An,… cây lúa nếp Nhung Đá có mức sinh trưởng phát triển tốt, đẻ nhánh khá, cứng cây và chống chịu sâu bệnh ổn định; gạo nếp Nhung Đá nổi tiếng với hạt gạo tròn, dẻo, thơm, chất lượng cao, phù hợp để chế biến nhiều món ăn truyền thống như: xôi, bánh chưng, bánh tét,… Tuy nhiên, trước đây việc sản xuất chủ yếu theo phương thức truyền thống với tính chất nhỏ lẻ, manh mún, thiếu sự liên kết khiến chất lượng sản phẩm thấp, không đồng đều, đầu ra bấp bênh nên hiệu quả kinh tế chưa cao làm cho giá trị sản phẩm chưa được khai thác hết tiềm năng vốn có. Nhận thức rõ điều này, Hội Nông dân phường Tĩnh Gia đã chủ động phối hợp với Công ty Cổ phần Thần Nông Thanh Hóa (địa chỉ: KCN Lễ Môn, phường Quảng Phú, tỉnh Thanh Hóa) xây dựng mô hình liên kết sản xuất lúa nếp Nhung Đá theo hướng hữu cơ, từng bước đã cho thấy được hiệu quả. Mô hình được triển khai trên tổng diện tích 19 ha với hơn 60 hộ dân có truyền thống, kinh nghiệm trồng các loại lúa, tập trung chủ yếu tại các tổ dân phố: Văn Nhân, Khánh Vân và Đồng Tâm – những khu vực có điều kiện địa hình (bằng phẳng, chân vàn ruộng cao), thổ nhưỡng (chất đất thịt nhẹ, màu mỡ, độ pH lý tưởng từ 5,5 đến 6,5). Ngay từ khi bắt đầu, các bên tham gia liên kết đã xác định rõ vai trò, trách nhiệm nhằm đảm bảo hiệu quả và tính bền vững của mô hình.

Trong chuỗi liên kết này, Công ty Cổ phần Thần Nông Thanh Hóa đóng vai trò “đầu tàu” về kỹ thuật và thị trường. Công ty cung ứng giống lúa nếp Nhung Đá chất lượng cao, đảm bảo nguồn gốc rõ ràng, đồng thời hỗ trợ vật tư đầu vào theo hướng hữu cơ như: phân bón hữu cơ, chế phẩm sinh học, thuốc bảo vệ thực vật sinh học,… với mức giá ưu đãi và hình thức thanh toán trả chậm, giúp nông dân giảm bớt áp lực tài chính đầu vụ. Bên cạnh đó, công ty tổ chức tập huấn, chuyển giao quy trình canh tác theo hướng hữu cơ cho người dân, hướng dẫn kỹ thuật từ khâu làm đất, gieo cấy, chăm sóc đến thu hoạch và bảo quản sau thu hoạch; áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, cơ giới hóa trong sản xuất với phương châm “1 phải 5 giảm” (1 PHẢI: Phải sử dụng giống lúa cấp xác nhận, giống chất lượng cao, thuần chủng; 5 GIẢM: Giảm lượng giống gieo sạ, giảm lượng phân bón, giảm thuốc bảo vệ thực vật, giảm lượng nước tưới, giảm thất thoát sau thu hoạch). Đặc biệt, công ty cam kết bao tiêu toàn bộ sản phẩm đầu ra cho nông dân với mức giá ổn định, cao hơn so với sản xuất truyền thống, giúp người dân yên tâm sản xuất.

Hội Nông dân phường Tĩnh Gia giữ vai trò là cầu nối quan trọng trong việc tổ chức, điều phối và giám sát thực hiện mô hình. Hội Nông dân đứng ra vận động hội viên tham gia liên kết, lựa chọn các hộ có đủ điều kiện về diện tích đất đai, nhân lực và tinh thần hợp tác để triển khai. Vùng trồng lúa hữu cơ phải có vùng đệm cách ly với các diện tích canh tác thông thường để tránh ô nhiễm chéo từ nguồn nước hoặc gió mang theo hóa chất. Đồng thời, Hội Nông dân phối hợp với doanh nghiệp trong việc tổ chức tập huấn, giám sát quy trình sản xuất, đảm bảo các hộ nông dân tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật đã đề ra. Ngoài ra, Hội còn hỗ trợ xây dựng các tổ nhóm sản xuất, tạo sự gắn kết giữa các hộ sản xuất, giúp trao đổi kinh nghiệm và hỗ trợ lẫn nhau trong suốt quá trình triển khai mô hình.

Đối với người nông dân – chủ thể trực tiếp sản xuất, họ đóng vai trò then chốt quyết định sự thành công của mô hình. Các hộ tham gia liên kết cam kết tuân thủ nghiêm ngặt quy trình sản xuất hữu cơ do đại diện công ty hướng dẫn, không sử dụng các loại phân bón, thuốc bảo vệ thực vật hóa học ngoài danh mục cho phép, đảm bảo chất lượng sản phẩm đầu ra. Đồng thời, người dân chủ động ghi chép nhật ký sản xuất, theo dõi quá trình sinh trưởng của cây lúa, từ đó kịp thời điều chỉnh biện pháp chăm sóc phù hợp – đây là cơ sở quan trọng để truy xuất nguồn gốc sản phẩm khi đưa ra thị trường. Đối với mô hình trồng trọt theo hướng hữu cơ, bước đầu tiên quan trọng nhất quyết định đến chất lượng của sản phẩm chính là khâu làm đất; làm đất không chỉ là làm tơi xốp mà còn là quá trình “xử lý độc tố” và “kích hoạt hệ vi sinh”. Cần tiến hành cày lật đất và phơi ải ít nhất 2 – 3 tuần; quá trình này giúp oxy hóa các chất độc trong đất, tiêu diệt mầm bệnh, trứng sâu và hạn chế cỏ dại. Ngoài ra đất ruộng cần được cày bừa, làm phẳng mặt ruộng để thuận tiện cho việc cơ giới hóa sản xuất như: mạ khay – máy cấy, gặt đập liên hợp,… Trước khi xuống giống cần tập trung bón lót toàn bộ lượng phân chuồng ủ hoai kết hợp với bừa nhiều lần để phân được vùi sâu vào trong bùn, hạn chế thất thoát dinh dưỡng. Trong quá trình sinh trưởng và phát triển của cây lúa, cần bón thúc thêm các loại phân vi sinh hữu cơ do công ty cấp để bổ sung dinh dưỡng cho cây trồng; sử dụng các thuốc bảo vệ thực vật sinh học để phòng chống các loại sâu bệnh gây hại. Việc thay đổi tư duy từ sản xuất truyền thống sang liên kết sản xuất theo hướng hữu cơ ban đầu gặp không ít khó khăn, nhưng nhờ sự đồng hành của công ty và Hội Nông dân, người dân đã từng bước thích nghi và nâng cao nhận thức về sản xuất an toàn, bền vững.

Cánh đồng lúa nếp Nhung Đá thời điểm cho thu hoạch tại phường Tĩnh Gia, Thanh Hóa.

Sau 5 tháng triển khai, mô hình bước đầu đã mang lại những hiệu quả tích cực. Năng suất lúa nếp Nhung Đá trung bình ước đạt từ 5,5 – 6 tấn/ha, tuy không cao hơn nhiều so với phương thức canh tác truyền thống, nhưng chất lượng sản phẩm lại vượt trội. Điểm khác biệt lớn nhất của lúa nếp Nhung Đá khi được trồng theo hướng hữu cơ so với các giống lúa nếp thông thường chính là chất lượng hạt gạo. Vì thời gian sinh trưởng và phát triển của cây lúa chậm, thuần tự nhiên và được bón bằng phân hữu cơ nên hạt gạo tích lũy được hàm lượng dinh dưỡng lành mạnh, hạt gạo chắc, nặng, có màu trắng đục tự nhiên. Khi nấu chín, mùi thơm có thể lan tỏa từ xa, hương thơm thanh khiết có thể dễ dàng nhận ra. Chính vì vậy giá bán sản phẩm sẽ cao hơn từ 20 – 30% so với chính sản phẩm này khi chưa được trồng theo mô hình liên kết sản xuất theo hướng hữu cơ tại địa phương. Hiện tại, giá lúa nếp Nhung Đá trên thị trường đang dao động trong khoảng từ 26.000 – 28.000 đồng/kg. Sau khi trừ chi phí, lợi nhuận của người dân đạt khoảng 40 – 45 triệu đồng/ha/vụ, cao hơn từ 10 – 15 triệu đồng/ha so với trước đây khi canh tác trên cùng một đơn vị diện tích. Đặc biệt, nhờ có hợp đồng bao tiêu, người dân không còn lo lắng về đầu ra, tránh được tình trạng “được mùa mất giá”. Không chỉ mang lại hiệu quả về kinh tế, mô hình còn góp phần thay đổi tập quán, tư duy sản xuất của người dân theo hướng an toàn, thân thiện với môi trường. Việc sử dụng phân bón hữu cơ, chế phẩm sinh học giúp cải tạo đất, tăng độ phì nhiêu, hạn chế ô nhiễm môi trường và bảo vệ sức khỏe cho người sản xuất cũng như người tiêu dùng. Hệ sinh thái đồng ruộng được cải thiện rõ rệt, nhiều loại thiên địch có lợi xuất hiện trở lại, góp phần kiểm soát sâu bệnh tự nhiên. Về mặt xã hội, mô hình đã tạo sự gắn kết chặt chẽ giữa “ba nhà”: nhà nông – nhà doanh nghiệp – tổ chức Hội Nông dân. Sự liên kết này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả sản xuất mà còn tạo niềm tin giữa các bên, mở ra cơ hội nhân rộng mô hình trong thời gian tới. Người nông dân dần thay đổi tư duy sản xuất, từ manh mún sang liên kết, từ chạy theo sản lượng sang chú trọng chất lượng và giá trị gia tăng.

Ngoài ra, việc xây dựng thương hiệu cho sản phẩm lúa nếp Nhung Đá theo hướng hữu cơ cũng đang được quan tâm đẩy mạnh. Sản phẩm sau thu hoạch được doanh nghiệp chế biến, đóng gói với bao bì, nhãn mác rõ ràng, đáp ứng các tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường. Đây là tiền đề quan trọng để sản phẩm có thể tiếp cận các kênh phân phối hiện đại, hướng tới xây dựng sản phẩm OCOP địa phương trong thời gian tới và xuất khẩu trong tương lai.

Mô hình liên kết sản xuất lúa nếp Nhung Đá theo hướng hữu cơ tại phường Tĩnh Gia không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế rõ nét cho người dân mà còn mở ra hướng phát triển bền vững cho ngành nông nghiệp địa phương. Việc thay đổi tư duy sản xuất từ truyền thống sang hướng hữu cơ đã góp phần nâng cao chất lượng hạt gạo, tạo ra sản phẩm sạch, an toàn, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường và người tiêu dùng hiện đại. Đồng thời, mô hình còn giúp giảm tác động tiêu cực đến môi trường, cải tạo đất canh tác và xây dựng hệ sinh thái nông nghiệp xanh, thân thiện với tự nhiên. Thành công của mô hình là minh chứng cho hiệu quả của việc liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm, từng bước nâng tầm giá trị giống lúa đặc sản địa phương. Đây không chỉ là hướng đi phù hợp với xu thế phát triển nông nghiệp hữu cơ hiện nay mà còn là nền tảng quan trọng để xây dựng thương hiệu lúa nếp Nhung Đá trở thành sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao của tỉnh Thanh Hóa trong thời gian tới.

Trịnh Lý