Hiệu quả mô hình chăn nuôi, chế biến dê tại xã Nga An, tỉnh Thanh Hóa

Hiệu quả mô hình chăn nuôi, chế biến dê tại xã Nga An, tỉnh Thanh Hóa

Trong những năm gần đây, nghề chăn nuôi dê ở Thanh Hóa đã từng bước phát triển, trở thành một hướng sản xuất mới phù hợp với điều kiện của địa phương và mang lại nguồn thu nhập cho người dân. Tuy nhiên, phương thức chăn nuôi dê theo hình thức chăn thả tự do, tận dụng nguồn thức ăn ngoài tự nhiên đang bộc lộ nhiều hạn chế. Diện tích chăn thả ngày càng bị thu hẹp, nguồn thức ăn phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết, khó khăn trong việc kiểm soát khẩu phần ăn và dịch bệnh; dẫn đến đàn dê sinh trưởng không đồng đều, chất lượng sản phẩm không ổn định và thời gian nuôi kéo dài khiến hiệu quả kinh tế chưa cao. Tại xã Nga An, tỉnh Thanh Hóa, mô hình chăn nuôi, chế biến dê của gia đình ông Mai Văn Toản nổi lên như một điển hình tiêu biểu. Với quy mô lớn, quy trình chăn nuôi, chế biến hiện đại và hệ thống tiêu thụ đa dạng, mô hình không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế cao mà còn mở ra hướng phát triển bền vững cho ngành chăn nuôi dê trên địa bàn.

Dê là một trong những loài vật nuôi được con người thuần hóa sớm nhất trong lịch sử, thuộc họ gia súc (Bovidae). Từ đó, dê được nuôi và phát triển rộng khắp thế giới nhờ khả năng thích nghi cao, dễ chăm sóc và mang lại nhiều giá trị kinh tế. Tại Việt Nam, nghề nuôi dê đã có từ lâu đời, tập trung chủ yếu ở các vùng trung du, miền núi, bán sơn địa và những nơi có nhiều đồi núi đá.

Trang trại chăn nuôi dê của gia đình ông Mai Văn Toản.

Nhận thấy nhu cầu tiêu thụ thịt dê ngày càng tăng trong khi nguồn cung trên thị trường chưa ổn định, ông Mai Văn Toản đã quyết định đầu tư phát triển chăn nuôi dê theo hướng hàng hóa. Từ quy mô nhỏ ban đầu, sau nhiều năm tích lũy kinh nghiệm và mở rộng sản xuất, đến nay trang trại của gia đình ông đã trở thành một trong những mô hình chăn nuôi dê quy mô lớn tại địa phương, với tổng đàn duy trì từ 500 – 600 con mỗi năm, trong đó chủ yếu là dê thịt thương phẩm từ 400 – 500 con/năm, còn lại là dê sinh sản. Để đảm bảo năng suất và chất lượng đàn dê, ông Toản đặc biệt chú trọng trong khâu lựa chọn giống. Giống dê được chọn là loại dê lai hướng thịt có nguồn gốc từ giống dê nhập ngoại Boer (Nam Phi) lai với giống dê nội bản địa. Điểm nổi bật của giống dê lai này là thừa hưởng khả năng siêu thịt của dê Boer và sức đề kháng, tính thích nghi khí hậu tốt của giống dê bản địa. So với các giống dê truyền thống, dê lai lớn nhanh cho sản lượng thịt cao và chất lượng thịt thơm ngon hơn. Quá trình nhân đàn được thực hiện theo phương pháp chọn lọc, loại thải những cá thể sinh trưởng kém, đồng thời bổ sung giống mới nhằm duy trì chất lượng đàn. Trung bình thời gian nuôi một con dê từ khi sinh ra đến khi trưởng thành có thể xuất bán là từ 12 – 13 tháng.

Với tổng diện tích mô hình gần 05 ha, trong đó bao gồm: khu vực chăn nuôi dê thịt và dê sinh sản (01 ha), khu vực trồng nguyên liệu làm thức ăn cho dê (02 ha), khu vực chế biến dê (500 m²) và nhà hàng (1.200 m²). Chuồng trại được quy hoạch khoa học, xây dựng ở vị trí cao ráo, thông thoáng, tách biệt khu dân cư. Hệ thống chuồng nuôi được thiết kế sàn cao, bảo đảm khô ráo, hạn chế ẩm ướt và giảm nguy cơ phát sinh dịch bệnh. Các khu vực nuôi dê sinh sản, dê thương phẩm và dê con được bố trí riêng biệt, thuận tiện cho công tác chăm sóc và quản lý. Toàn bộ hệ thống chuồng trại được xây dựng kiên cố bằng sắt thép. Sàn làm bằng sắt mạ kẽm chống gỉ, cao từ 0,8 – 1,2 m so với mặt đất, khe hở sàn rộng 1,2 – 1,5 cm để phân rơi xuống dễ dàng nhưng không làm lọt chân dê, độ dốc sàn khoảng 2 – 3% giúp thoát nước khi vệ sinh. Mái chuồng được lợp tôn chống nóng, chiều cao mái từ 3 – 4 m, có rèm che hoặc bạt cuốn để chắn gió, mưa vào mùa đông và những ngày mưa lớn. Hệ thống chiếu sáng và thông gió cũng phải cần được đặc biệt quan tâm. Gió được lấy từ tự nhiên kết hợp quạt hút và quạt thông gió, hệ thống chiếu sáng có cửa lấy sáng và tấm lợp lấy sáng để tận dụng ánh sáng tự nhiên kết hợp các bóng điện được lắp đặt xung quanh trang trại. Hệ thống máng ăn đặt phía ngoài hoặc sát thành chuồng để hạn chế thức ăn rơi vãi, máng cỏ dạng chữ V hoặc chữ U, cao khoảng 40 – 50 cm, nước uống sạch luôn có sẵn. Ngoài ra, ông Toản còn đầu tư khu vực thu gom và xử lý chất thải bài bản. Dưới mỗi sàn nuôi dê đều được bố trí các rãnh hoặc hố thu phân, phân được thu gom hằng ngày để ủ làm phân hữu cơ hoặc đưa vào hầm biogas, nước thải dẫn về bể lắng hoặc khu xử lý riêng, không xả trực tiếp ra môi trường.

Vì dê được nuôi theo hướng khép kín, nguồn thức ăn đóng vai trò quyết định đến tốc độ sinh trưởng, khả năng sinh sản, chất lượng thịt và hiệu quả kinh tế. Do không được chăn thả tự nhiên, người chăn nuôi cần xây dựng khẩu phần ăn cân đối giữa thức ăn thô xanh, thức ăn tinh và khoáng, vitamin nhằm đáp ứng đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng của đàn dê. Thức ăn xanh chiếm khoảng 60 – 70% khẩu phần của dê nuôi nhốt, chủ yếu là cỏ voi và các loại lá cây như: lá dâu, lá khoai, lá mít,… được trồng trực tiếp tại trang trại. Ngoài ra, trong từng giai đoạn phát triển của dê cần bổ sung thêm muối khoáng và thức ăn tinh như: Ngô hạt nghiền, cám gạo, cám viên dành cho dê,… Khẩu phần thức ăn tinh thường chiếm 0,3 – 1,0 kg/con/ngày, tùy theo độ tuổi và mục đích nuôi. Nước uống cho dê cũng cần được chú trọng, trung bình mỗi con cần khoảng 3 – 6 lít nước/ngày và tăng lên khi thời tiết nắng nóng hoặc dê đang cho sữa. Song song với việc chăm sóc, công tác vệ sinh thú y và phòng, chống dịch bệnh luôn được đặt lên hàng đầu. Chuồng nuôi được vệ sinh thường xuyên, định kỳ phun tiêu độc khử trùng, xử lý chất thải đúng quy trình nhằm bảo vệ môi trường và hạn chế mầm bệnh. Đàn dê được theo dõi sức khỏe hằng ngày, tiêm phòng đầy đủ các loại vắc xin theo hướng dẫn của cơ quan chuyên môn, đồng thời thực hiện tẩy ký sinh trùng định kỳ và bổ sung khoáng, vitamin để tăng sức đề kháng. Nhờ áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật, đàn dê sinh trưởng khỏe mạnh, tỷ lệ hao hụt thấp, tốc độ tăng trọng ổn định, chất lượng thịt thơm ngon, săn chắc, đáp ứng yêu cầu của thị trường. Chăn nuôi với mật độ cao đòi hỏi công tác thú y phải đặt lên hàng đầu. Trang trại áp dụng lịch tiêm phòng vắc-xin định kỳ theo đúng khuyến cáo của cơ quan thú y đối với các bệnh phổ biến như tụ huyết trùng, lở mồm long móng, và viêm ruột hoại tử.

Không dừng lại ở chăn nuôi, gia đình ông Mai Văn Toản tiếp tục đầu tư xây dựng khu chế biến với diện tích khoảng 500 m² nhằm hình thành chuỗi sản xuất khép kín từ trang trại đến bàn ăn. Việc đầu tư khu chế biến giúp chủ động đầu ra, nâng cao giá trị sản phẩm so với hình thức chỉ bán dê hơi như trước đây, đồng thời đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng về chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm. Đây cũng là giải pháp hạn chế tình trạng phụ thuộc vào thương lái, góp phần ổn định thu nhập cho cơ sở. Trước khi đi vào hoạt động, toàn bộ khu sơ chế, chế biến dê của ông Toản đã được các cấp có thẩm quyền cấp phép chứng nhận đủ điều kiện hoạt động, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và vệ sinh môi trường. Khu giết mổ được thiết kế một chiều (từ khu tập kết dê sống, khu làm sạch, khu giết mổ đến khu pha lóc thịt). Khu vực giết mổ được bố trí riêng biệt, sạch sẽ, các dụng cụ chế biến được vệ sinh, khử trùng thường xuyên. Trước khi đưa vào giết mổ, dê được nghỉ ngơi, uống nước sạch và trải qua khâu kiểm dịch của cán bộ thú y để loại bỏ hoàn toàn những cá thể không đạt yêu cầu sức khỏe. Sau khi giết mổ, thịt dê được phân loại theo từng phần như đùi, vai, sườn, ba chỉ, nội tạng,… để phục vụ nhu cầu đa dạng của khách hàng. Sản phẩm được sơ chế, đóng gói cẩn thận và bảo quản trong điều kiện phù hợp nhằm giữ được độ tươi ngon trước khi đưa ra thị trường. Việc kết hợp chăn nuôi với chế biến đã tạo ra giá trị gia tăng đáng kể cho sản phẩm. Thay vì chỉ bán nguyên liệu thô, cơ sở có thể cung cấp nhiều dòng sản phẩm khác nhau, mở rộng thị trường và nâng cao hiệu quả kinh tế. Đặc biệt, gia đình ông Toản đã đầu tư xây dựng nhà hàng với diện tích khoảng 1.200 m² để trực tiếp phục vụ thực khách. Đây vừa là nơi quảng bá thương hiệu, vừa là kênh tiêu thụ hiệu quả cho phần lớn sản phẩm của trang trại. Tại đây, khách hàng có thể thưởng thức nhiều món ăn chế biến từ thịt dê tươi ngay sau khi được sơ chế, tạo nên sự khác biệt về chất lượng và hương vị như: dê ủ trấu, dê tái chanh, dê hấp, dê nướng, dê xào lăn, dê hầm thuốc bắc, lẩu dê,… Những dịp cao điểm, chỉ tính riêng nhà hàng của ông Toản đã tiêu thụ hàng chục con dê mỗi ngày.

Nhà hàng dê Ngọc Toản tại xã Nga An, Thanh Hóa.

Một trong những điểm nổi bật của mô hình là xây dựng được hệ thống tiêu thụ đa dạng, giúp sản phẩm luôn có đầu ra ổn định. Nhờ chất lượng đàn dê ổn định, sản phẩm được thị trường đón nhận, tạo dựng được uy tín với khách hàng. Một phần ba lượng dê hơi tại trang trại được xuất bán sỉ cho các thương lái, cơ sở giết mổ, nhà hàng tại phường Hạc Thành, xã Nga Sơn và các tỉnh, thành lân cận như Ninh Bình, Hà Nội. Song song với đó, các mặt hàng dê đã qua chế biến được đóng gói hút chân không, dán tem nhãn mác, thương hiệu trước khi cung cấp cho hệ thống các siêu thị mini, cửa hàng thực phẩm sạch, các nhà hàng và khách hàng có nhu cầu sử dụng trên địa bàn. Việc dán tem truy xuất nguồn gốc rõ ràng giúp người tiêu dùng hoàn toàn yên tâm khi lựa chọn sản phẩm, từ đó từng bước nâng tầm giá trị đặc sản nông nghiệp địa phương. Với quy mô 400 – 500 con dê thịt thương phẩm/năm, kết hợp chăn nuôi theo chế biến và tiêu thụ dê khép kín, mô hình có nhiều lợi thế trong việc nâng cao giá trị gia tăng, ổn định đầu ra và tăng hiệu quả kinh tế. Bình quân một con dê trưởng thành có thể xuất bán có trọng lượng từ 30 – 35 kg/con. Với mức giá bán dê hơi khoảng từ 180.000 đồng/kg tại trang trại, cho doanh thu trung bình đạt từ 800 triệu đồng/năm. Đối với thịt dê sau sơ chế, chế biến có giá bán từ 220.000 đồng/kg tại nhà hàng cho doanh thu trung bình đạt từ hơn 2 tỷ đồng/năm. Tổng doanh thu hàng năm trung bình đạt từ 2,8 – 3 tỷ đồng/năm; Sau khi trừ chi phí, lợi nhuận trung bình đạt từ 800 – 950 triệu đồng/năm. Mô hình của ông Toản cũng tạo việc làm thường xuyên cho từ 6 – 10 lao động địa phương, với mức thu nhập ổn định từ 5 – 8 triệu đồng/người/tháng.

Mô hình chăn nuôi, chế biến dê tại xã Nga An đã cho thấy hướng đi phù hợp trong việc chuyển đổi từ phương thức chăn thả truyền thống sang chăn nuôi tập trung, có đầu tư chuồng trại, áp dụng quy trình chăm sóc và gắn sản xuất với chế biến, tiêu thụ sản phẩm. Việc nâng cao giá trị từ con dê không chỉ giúp người chăn nuôi tăng thu nhập, chủ động đầu ra mà còn góp phần khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế của địa phương. Đây là mô hình có nhiều tiềm năng để nhân rộng tại những địa phương có điều kiện tương đồng, góp phần đa dạng hóa sản phẩm nông nghiệp, nâng cao thu nhập cho người dân và thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn của tỉnh Thanh Hóa theo hướng hiện đại, bền vững.

Trịnh Lý