Viện Nông nghiệp Thanh Hóa xây dựng mô hình sản xuất dưa chuột nếp địa phương theo hướng hữu cơ gắn với liên kết tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị

Viện Nông nghiệp Thanh Hóa xây dựng mô hình sản xuất dưa chuột nếp địa phương theo hướng hữu cơ gắn với liên kết tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị

Thanh Hóa là địa phương có truyền thống canh tác cây rau màu vụ Đông, trong đó dưa chuột (Cucumis sativus L.) luôn đóng vai trò là cây trồng chủ lực nhờ ưu thế thời gian sinh trưởng ngắn (60–70 ngày), khả năng quay vòng vốn nhanh, năng suất cao và phù hợp với nhiều tiểu vùng sinh thái khác nhau. Không chỉ phục vụ nhu cầu ăn tươi nội địa, sản phẩm dưa chuột còn là nguyên liệu đầu vào quan trọng cho các nhà máy chế biến nông sản xuất khẩu, góp phần chuyển dịch cơ cấu cây trồng và nâng cao thu nhập cho nông dân.

Trong các giống dưa hiện lưu hành tại địa phương, dưa chuột nếp Hà Trung nổi bật là nguồn gen bản địa đặc sản quý hiếm. Sau khi được Viện Nghiên cứu Rau quả phục tráng thành công, giống dưa này thể hiện rõ các đặc trưng hình thái vượt trội: Vỏ xanh trắng, gai mềm, thịt dày, ruột nhỏ, hạt lép, cùng hương vị giòn ngọt và thơm mát đặc trưng. Về mặt sinh thái, giống ghi nhận khả năng kháng sâu bệnh tốt, chống chịu linh hoạt với diễn biến bất lợi của thời tiết. Tuy nhiên, thực tiễn sản xuất tại địa phương vẫn gặp nhiều rào cản: quy trình canh tác hữu cơ chuẩn hóa phù hợp với thổ nhưỡng Thanh Hóa chưa hoàn thiện; thói quen lạm dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) làm gia tăng chi phí, suy giảm chất lượng nông sản, đe doạ môi trường sinh thái và tiềm ẩn nguy cơ thoái hóa giống. Đáng chú ý, tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, thiếu liên kết chuỗi khiến sản phẩm thường xuyên rơi vào vòng lặp “được mùa mất giá”. Vì vậy, việc chuẩn hóa kỹ thuật canh tác theo hướng hữu cơ kết hợp chuỗi bao tiêu sản phẩm là giải pháp then chốt để tái thiết lập hệ sinh thái ruộng đồng, gia tăng giá trị kinh tế và bảo vệ nguồn gen bản địa.

Viện Nông nghiệp Thanh Hóa là đơn vị sự nghiệp khoa học – công nghệ trực thuộc UBND tỉnh, với hệ thống phòng phân tích hiện đại cùng đội ngũ chuyên gia giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực nông nghiệp, Viện hoàn toàn chủ động từ khâu kiểm soát nguồn giống, phân tích thổ nhưỡng, nguồn nước đến xây dựng quy trình kỹ thuật chuẩn hóa cho cây trồng.

Xuất phát từ thực tiễn trên đồng thời nhằm cụ thể hóa mục tiêu Đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2022 – 2030 (ban hành theo Quyết định số 3809/QĐ-UBND ngày 07/11/2022 của Chủ tịch UBND tỉnh), Viện Nông nghiệp Thanh Hóa đã chủ trì triển khai thực hiện nhiệm vụ: “Xây dựng mô hình sản xuất dưa chuột nếp địa phương theo hướng hữu cơ gắn với liên kết tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị”. Nhiệm vụ sử dụng nguồn giống dưa chuột nếp Hà Trung đã qua phục tráng, tích hợp quy trình kỹ thuật canh tác theo hướng hữu cơ do chính đội ngũ kỹ sư của Viện tối ưu hóa theo điều kiện sinh thái địa phương. Không dừng lại ở vai trò hạt nhân khoa học chuyển giao kỹ thuật, Viện đã chủ động là cầu nối chiến lược giữa chính quyền, hợp tác xã và doanh nghiệp. Việc ký kết hợp đồng bao tiêu sản phẩm với Công ty TNHH TM-DV Nông nghiệp CNC Rich Farm, xã Sao Vàng, tỉnh Thanh Hóa là mắt xích quyết định để khép kín chuỗi giá trị. Đây không chỉ là bảo chứng cho đầu ra nông sản, nâng cao thu nhập thực tế cho người dân mà còn là động lực cốt lõi làm thay đổi tư duy sản xuất manh mún, hướng tới một nền nông nghiệp hữu cơ hiện đại, hiệu quả và bền vững trên địa bàn tỉnh.

Địa điểm lựa chọn triển khai mô hình là thôn Thọ Lộc, xã Tống Sơn có quy mô 01 ha với 05 hộ dân tham gia và Trung tâm Nghiên cứu khảo nghiệm và dịch vụ cây trồng, xã Thọ Long có quy mô 01 ha với 03 hộ tham gia. Trong đó, vùng sản xuất được lựa chọn đáp ứng các điều kiện về đất canh tác tập trung, nguồn nước tưới không bị ô nhiễm, cách biệt với các khu vực sử dụng hóa chất độc hại, phù hợp phát triển nông nghiệp mang tính hàng hóa, diện tích sản xuất rau lớn, hệ thống giao thông hoàn chỉnh nằm ở vị trí thuận lợi để tham quan, nhân rộng; các hộ nông dân tham gia là các hộ có tinh thần trách nhiệm và tự nguyện tham gia xây dựng mô hình, tuân thủ theo đúng quy trình kỹ thuật được hướng dẫn của Viện Nông nghiệp. Khi tham gia mô hình, các hộ dân sẽ được cấp phát giống, phân bón và được cán bộ kỹ thuật của Viện Nông nghiệp trực tiếp hướng dẫn kỹ thuật và theo dõi trong suốt quá trình triển khai thực hiện.

(Quá trình bón phân, chăm sóc dưa chuột nếp tại xã Thọ Long)

Về phương pháp sản xuất: Đối với mô hình sản xuất dưa chuột nếp theo hướng hữu cơ: Sử dụng giống dưa chuột nếp địa phương đã được phục tráng, sử dụng phân bón hữu cơ vi sinh, không sử dụng phân bón hóa học. Ưu tiên sử dụng thuốc BVTV sinh học, thảo mộc và các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm; Đối với ruộng đối chứng (sản xuất thông thường): Sử dụng giống dưa chuột nếp địa phương; áp dụng phương pháp sản xuất thông thường (sử dụng phân bón vô cơ NPK và phòng trừ sâu bệnh chủ yếu bằng thuốc hóa học). Vị trí ruộng đối chứng bố trí gần khu vực thực hiện mô hình, được ngăn cách bằng trục đường lớn.

Biện pháp canh tác kỹ thuật: (1) Mật độ trồng: 33.000 cây/ha; khoảng cách trồng: 40 x 75cm; (2) Kỹ thuật làm đất và lên luống: Làm đất cần phay đất kỹ 2 lần để tăng chiều dày tầng sản xuất và phá vỡ lớp đế cày và phơi ải trước khi trồng để diệt trừ cỏ dại, mầm bệnh, giúp đất thông thoáng; Lên luống rộng 1,2 m; cao 20 – 25 cm; (3) Bón phân (100% phân bón hữu cơ) với định mức (áp dụng trên 1 ha): 2.000 kg phân hữu cơ vi sinh + 1.000 kg phân hữu cơ ép viên + 2,5 lít Siêu Bo hữu cơ + 2,5 lít Siêu Kali hữu cơ, chia làm 4 giai đoạn bón: Bón lót 100% phân hữu cơ vi sinh và bón thúc 3 đợt bằng phân hữu cơ ép viên vào các mốc thời gian 15 – 20 ngày, 30 – 35 ngày và 45 – 50 ngày sau mọc (kết hợp vun gốc và tưới thấm).

Chăm sóc và quản lý đồng ruộng: (1) Tưới nước: Duy trì độ ẩm thường xuyên. Nếu khô hạn, dẫn nước vào 1/3 rãnh luống cho ngấm đều sau đó tháo kiệt trước khi trồng; (2) Dặm cây: Tiến hành dặm các cây chết/kém phát triển để đảm bảo mật độ, tránh lãng phí đất và hạn chế cỏ dại; (3) Làm cỏ, vun gốc: Triển khai thường xuyên để ruộng luôn sạch cỏ. Tiến hành vun gốc 3 đợt để giúp cây thoáng khí, chống đổ và kích thích ra rễ; (4) Ngắt ngọn, tỉa nhánh, làm giàn: Tỉa nhánh duy trì 2 – 4 nhánh phụ khỏe mạnh trên thân chính. Ngắt ngọn nhánh phụ cách hoa cái 2 lá để tập trung dinh dưỡng nuôi quả.

 Đối với biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại: Sử dụng các loại thuốc BVTV có nguồn gốc sinh học (Proclaim 5WG, SAT 4L) để phòng trừ các loại sâu, bệnh hại thường gặp gồm: Sâu xám, sâu xanh, sâu keo, sâu vẽ bùa, bệnh lở cổ rễ, bệnh sương mai thường xuất hiện ở giai đoạn đầu mới trồng và giai đoạn từ khi cây ra hoa đến khi quả lớn.

      Sau khi trồng, cán bộ Viện Nông nghiệp sẽ cùng các hộ dân tham gia tiến hành theo dõi, đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của mô hình tại 2 địa điểm, đồng thời so sánh với các ruộng đối chứng (được sản xuất theo phương pháp thông thường) kết quả cho thấy: (1) Về chỉ tiêu thời gian sinh trưởng: Tính từ khi gieo đến khi kết thúc thu hoạch, mô hình sản xuất theo hướng hữu cơ đạt trung bình từ 67 – 69 ngày, kéo dài hơn so với mô hình đối chứng từ 2 – 3 ngày. Điều này cho thấy phương thức sản xuất hữu cơ giúp cây duy trì sức sống tốt và kéo dài thời gian khai thác; (2) Về chỉ tiêu sinh trưởng và kích thước quả: Mô hình sản xuất theo hướng hữu cơ cho thấy ưu thế cây khỏe, thân chính phát triển tốt, kích thước quả lớn hơn với chiều dài trung bình đạt 16,8 cm (dài hơn mô hình đối chứng 0,75 cm) và thời gian cho thu hoạch dài hơn so với phương thức sản xuất thông thường; (3) Về năng suất thực thu: Mô hình sản xuất theo hướng hữu cơ tại 2 địa điểm đạt 304,7 – 305,6 tạ/ha/vụ, cao hơn so với mô hình đối chứng (301,2 tạ/ha/vụ); (4) Về mức độ nhiễm sâu bệnh hại: Mô hình sản xuất theo hướng hữu cơ giúp giảm thiểu đáng kể áp lực sâu bệnh hại. Đặc biệt là các đối tượng rệp và bệnh phấn trắng, giả sương mai và virus được kiểm soát tốt hơn so với sản xuất truyền thống (đối chứng), từ đó giúp cây sinh trưởng bền vững và giảm chi phí sử dụng thuốc BVTV. Ngoài ra, nhờ sử dụng các loại thuốc BVTV có nguồn gốc sinh học và tuân thủ liều lượng theo hướng dẫn từ cán bộ kỹ thuật của Viện Nông nghiệp, các sản phẩm dưa chuột từ mô hình có hàm lượng kim loại nặng, vi sinh vật và dư lượng thuốc bảo vệ thực vật đều đạt và dưới ngưỡng cho phép theo tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm.

(Cán bộ kỹ thuật đo đếm một số chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển của dưa chuột nếp tại xã Tống Sơn)

Đối với hiệu quả sản xuất, năng suất thực tế sau khi thực hiện mô hình tại 2 địa điểm cho thấy: (1) Về chi phí đầu tư: Tổng chi phí của mô hình sản xuất theo hướng hữu cơ trung bình là 194,35 triệu đồng/ha/vụ, cao hơn so với sản xuất thông thường (188,10 triệu đồng/ha/vụ). Sự gia tăng này chủ yếu nằm ở chi phí phân bón hữu cơ vi sinh và hữu cơ ép viên. Tuy nhiên, mô hình sản xuất theo hướng hữu cơ giúp tiết kiệm đáng kể chi phí thuốc BVTV (giảm 50% so với đối chứng) và giảm chi phí thuê công lao động nhờ quy trình chăm sóc khoa học, cây trồng khỏe mạnh, ít sâu bệnh. Đặc biệt, do sản phẩm đạt các tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm, mẫu mã quả đẹp, có độ đồng đều cao nên giá bán đạt bình quân 0,90 triệu đồng/tạ, cao hơn đối chứng (0,85 triệu đồng/tạ). Doanh thu từ mô hình sản xuất theo hướng hữu cơ đạt 274,63 triệu đồng/ha/vụ, lãi thuần từ mô hình trung bình đạt 80,28 triệu đồng/ha/vụ, cao hơn sản xuất thông thường 12,45 triệu đồng/ha/vụ. Như vậy, mô hình sản xuất dưa chuột nếp địa phương khi áp dụng quy trình kỹ thuật canh tác theo hướng hữu cơ do Viện tối ưu hóa theo điều kiện sinh thái địa phương đã đem lại hiệu quả kinh tế tăng trên 18,36% so với phương thức sản xuất thông thường.

(Người nông dân thu hoạch dưa chuột nếp tại mô hình xã Thọ Long)

Đối với việc liên kết  tiêu thụ sản phẩm: Nhờ có sự chủ động ký kết hợp đồng bao tiêu sản phẩm với Công ty TNHH TM-DV Nông nghiệp CNC Rich Farm ngay từ khi bắt đầu thực hiện mô hình.Vì vậy, sản phẩm khi đến kỳ thu hoạch sẽ được Công ty cử cán bộ kỹ thuật xuống kiểm tra chất lượng và thu mua tại chỗ theo giá đã được ký kết khiến người dân tham gia mô hình rất phấn khởi, yên tâm sản xuất. Ngoài ra, với chất lượng sản phẩm đã được kiểm định đảm bảo các yêu cầu về an toàn thực phẩm đã góp phần củng cố niềm tin giữa doanh nghiệp và người nông dân, mở ra khả năng nhân rộng mô hình và hướng đi phát triển bền vững trong tương lai đồng thời khẳng định uy tín kết nối của Viện Nông nghiệp Thanh Hóa.

Có thể nói, thành công của mô hình sản xuất dưa chuột nếp Hà Trung theo hướng hữu cơ không chỉ dừng lại ở những con số tăng trưởng kinh tế hay bài toán bao tiêu đầu ra được giải quyết triệt để. Quan trọng hơn, từ những kết quả đã đạt được trong việc triển khai thực hiện mô hình đã đặt nền móng cho sự thay đổi toàn diện trong tư duy canh tác của người dân: Từ sản xuất nông nghiệp thuần túy sang phát triển kinh tế nông nghiệp xanh, tuần hoàn và bền vững. Việc chủ động làm chủ kỹ thuật sạch, phục hồi hệ sinh thái đất và gắn kết chặt chẽ với chuỗi giá trị doanh nghiệp chính là sức lan tỏa lớn nhất để Viện Nông nghiệp Thanh Hóa chuẩn hóa quy trình kỹ thuật sản xuất và tiếp tục nhân rộng mô hình, đóng góp thiết thực vào mục tiêu hiện đại hóa ngành nông nghiệp tỉnh nhà.

Bùi Thám