I. TÌNH HÌNH CHUNG THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC VÀ QUỐC TẾ
- Thị trường quốc tế:
Tại thị trường gạo thế giới, tại một số Quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu, giá gạo xuất khẩu của Thái Lan tại thời điểm tháng 7/2024 giảm đáng kể so với tháng trước, do nhu cầu thấp hơn và nguồn cung tăng, giá gạo của thị trường Ấn Độ cũng giảm nhẹ theo thị trường so với tháng 6/2024, nguyên nhân được cho là do nhu cầu yếu vì cước phí vận chuyển cao hơn và đồng rupee mất giá. Cụ thể, tại thời điểm giữa tháng 7/2024, giá gạo 5% tấm của Thái Lan dao động ở mức từ 570 – 575 USD/tấn. Giá gạo 5% tấm của Ấn Độ đang giao dịch ở mức 539 – 545 USD/tấn trong thời điểm đầu tháng 6/2024.
Achentina là thị trường lớn nhất cung cấp ngô cho Việt Nam trong 7 tháng đầu năm 2024, chiếm 55,5% trong tổng lượng và chiếm 54% trong tổng kim ngạch nhập khẩu ngô của cả nước, đạt gần 3,19 triệu tấn, tương đương trên 772,29 triệu USD, giá tại thời điểm đầu tháng 8/2024 đạt 242,4 USD/tấn, tăng 130,3% về lượng, tăng 70,9% kim ngạch nhưng giảm 25,8% về giá so với 7 tháng đầu năm 2023. Brazil là thị trường lớn thứ hai cung cấp ngô cho Việt Nam trong 7 tháng đầu năm 2024, đạt trên 1,57 triệu tấn, tương đương 402,69 triệu USD, giá thời điểm đầu tháng 8/2024 ghi nhận ở mức 256 USD/tấn, chiếm 27,4% trong tổng lượng và chiếm 28,2% tổng kim ngạch nhập khẩu ngô của cả nước, tăng 14% về lượng, nhưng giảm 12,4% về kim ngạch và giá giảm 23,2% so với 7 tháng đầu năm 2023. Tiếp đến thị trường Lào 7 tháng đầu năm 2024 đạt 74.589 tấn, tương đương 18,64 triệu USD, giá 249,9 USD/tấn, chiếm 1,3% trong tổng lượng và tổng kim ngạch nhập khẩu ngô của cả nước, tăng 23,5% về lượng, nhưng giảm 11,7% về kim ngạch và giá giảm 28,5% so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý, nhập khẩu ngô từ thị trường Ấn Độ 7 tháng đầu năm nay giảm rất mạnh, giảm 99,8% về lượng và giảm 98% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước, chỉ đạt 2.561 tấn, tương đương 6,85 triệu USD.
Brazil là thị trường lớn nhất cung cấp đậu tương cho Việt Nam trong 7 tháng đầu năm 2024, chiếm gần 59,5% trong tổng lượng và chiếm 57,4% trong tổng kim ngạch nhập khẩu đậu tương của cả nước, đạt 780.916 tấn, tương đương gần 394,61 triệu USD, giá giao dịch tại thời điểm đầu tháng 8/2024 đạt 505,3 USD/tấn, tăng 31,8% về lượng, tăng 10,2% kim ngạch nhưng giảm 16,4% về giá so với 7 tháng đầu năm 2023. Thị trường lớn thứ 2 là Mỹ, trong 7 tháng đầu năm 2024 đạt 422.669 tấn, tương đương 229,12 triệu USD, giá ghi nhận tại thời điểm đầu tháng 8/2024 đạt 542 USD/tấn, chiếm 32,2% trong tổng lượng và chiếm 33,3% trong tổng kim ngạch nhập khẩu đậu tương của cả nước, giảm 12,3% về lượng, giảm 30,6% về kim ngạch và giá giảm 20,8% so với 7 tháng đầu năm 2023. Tiếp đến thị trường Canada 7 tháng đầu năm 2024 đạt 70.863 tấn, tương đương 42,71 triệu USD, giá ghi nhận tại thời điểm đầu tháng 8/2024 đạt 602,8 USD/tấn, chiếm 5,4% trong tổng lượng và chiếm 6,2% trong tổng kim ngạch nhập khẩu đậu tương của cả nước, tăng 2,2% về lượng, nhưng giảm 16,8% về kim ngạch và giá giảm 18,6% so với cùng kỳ năm trước.
Tại thị trường thịt lợn Hoa Kỳ, tại thời điểm cuối tháng 7/2024, giá lợn nạc tại Chicago, Hoa Kỳ biến động mạnh, giá có xu hướng tăng trở lại, nhất là trong 2 tuần gần đây. Ngày 29/7/2024, giá lợn nạc tại Chicago, Hoa Kỳ giao kỳ hạn gần ở mức 93,47 UScent/lb, tăng 4,6% so với cuối tháng 6/2024 và tăng 12,1% so với cùng kỳ năm 2023. Thị trường thịt lợn tại Trung Quốc đầu tháng 7/2024, theo số liệu từ công ty tư vấn MySteel, giá thịt lợn hơi tại Trung Quốc là trên 18 nhân dân tệ (2,48 USD)/kg, tăng so với mức giá dưới 14 nhân dân tệ cùng thời điểm này năm ngoái.
Trung Quốc là thị trường nhập khẩu tôm đông lạnh hàng đầu trên thế giới. Chỉ tính riêng tháng 7/2024, Trung Quốc nhập khẩu 82.347 tấn tôm đông lạnh, giá nhập khẩu trung bình giảm 12% so với cùng kỳ năm trước xuống còn 4,81 USD/Kg. Ecuador là thị trường cung cấp tôm lớn nhất cho Trung Quốc với hơn 390.000 tấn tính từ đầu năm đến nay, giá trung bình giảm 15% so với cùng kỳ năm trước xuống còn 4,51 USD/Kg. Ấn Độ và Venezuela ghi nhận tăng về lượng xuất khẩu tôm sang Trung Quốc nhưng lại giảm về giá thành, cụ thể giá xuất khẩu tôm trung bình của Ấn Độ giảm 9% xuống còn 5,11 USD/Kg, trong khi đó tôm của Venezuela giảm 13% xuống còn 3,92 USD/Kg.
(Nguồn: Tham khảo tại Website của Bộ Nông nghiệp & PTNT, Bộ Công thương và một số các chuyên trang thị trường, giá cả sản phẩm nông nghiệp,….).
- Thị trường trong nước:
Tại thị trường xuất khẩu gạo Việt Nam, giá gạo xuất khẩu tại thời điểm đầu tháng 8/2024 duy trì ổn định so với các tháng trước. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, giá gạo xuất khẩu 5% tấm hiện ở mức 579 USD/tấn. Trong khi đó tại thị trường gạo trong nước, giá gạo không có nhiều biến động, ghi nhận tại nhiều địa phương như: Cần Thơ, Tiền Giang, An Giang, Đồng Tháp, Sóc Trăng, Kiên Giang…vào thời điểm cuối tháng 8/2024, đối với mặt hàng gạo, giá gạo vẫn duy trì ổn định. Tuy nhiên, bước sang tháng 9, giá gạo đồng loạt tăng cao do ảnh hưởng bởi tình hình mưa bão, ngập lụt diễn ra ở miền Bắc và miền Trung khiến nguồn cung khan hiếm. Tại các chợ lẻ, giá gạo tẻ thường dao động quanh mốc 16.000 – 17.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài giá dao động trong khoảng từ 21.000 – 21.500 đồng/kg; gạo Hương Lài 20.500 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 21.500 đồng/kg. Giá ngô và một số loại đậu không có nhiều biến động, duy trì ổn định trong tháng 8 và tăng nhẹ trong tháng 9/2024.
Tại thời điểm cuối tháng tháng 7/2024, giá lợn hơi trên cả nước có xu hướng giảm so với tháng trước, giá dao động trong khoảng 62.000 – 66.000 đồng/kg. Cụ thể, giá lợn hơi tại khu vực miền Bắc dao động trong khoảng từ 64.000 – 66.000 đồng/kg, giảm 2.000 – 3.000 đồng/kg so với cuối tháng trước. Tại khu vực miền Trung và Tây Nguyên, giá lợn hơi dao động trong khoảng 62.000 – 65.000 đồng/kg, giảm 1.000 – 2.000 đồng/kg so với cuối tháng trước. Tại khu vực miền Nam, giá lợn hơi dao động trong khoảng 62.000 – 66.000 đồng/kg, giảm 2.000 – 4.000 đồng/kg so với cuối tháng trước. Tuy nhiên bước sang tháng 9/2024 với ảnh hưởng của dịch tả lợn châu Phi cùng với tình hình mưa bão khiến nguồn cung thiếu hụt dẫn đến giá lợn hơi tăng cao ở cả 3 miền, dao động trong khoảng 66.000 – 68.000 đồng/kg. Đối với sản phẩm thịt bò, thịt gia cầm nhìn chung trên địa bàn cả nước, giá vẫn duy trì ổn định ở các tháng 7,8 và tăng nhanh vào thời điểm giữa tháng 9. Thời điểm đầu tháng 9/2024, giá thịt bò ghi nhận ở nhiều địa phương tăng nhanh, giá thịt bò loại 1 trung bình đạt 241.150 đồng/kg. Sản phẩm trứng gia cầm thời điểm đầu tháng 9/2024 đã bắt đầu tăng giá trở lại ở mức tốt. Theo ghi nhận giá trứng gia cầm đã nhích dần lên trung bình từ 2.685 đồng/quả, tùy từng loại. Cụ thể, giá trứng gà công nghiệp ghi nhận vào thời điểm đầu tháng 9/2024 ở mức 2.475 đồng/quả, trứng gà ta 3.100 đồng/quả.
Tại thời điểm đầu tháng 8/2024, giá tôm thẻ ở các tỉnh ĐBSCL đang duy trì đà tăng giá. Theo ghi nhận tại Bạc Liêu, Cà Mau giá tôm thẻ có xu hướng tăng nhẹ. Cụ thể: Tôm loại 40 con/kg có giá dao động trong khoảng khoảng 150.000 – 156.000 đồng/kg, tôm loại 60 con/kg có giá dao động trong khoảng khoảng 115.000 – 120.000 đồng/kg. Một số loại mặt hàng thuỷ hải sản khác như: cua, mực, cá… giá cũng tăng nhanh trong tháng 7,8 do sức mua tăng cao trong các đợt nghỉ hè và có xu hướng giữ nguyên vào thời điểm bước sang tháng 9/2024.
Tại thời điểm giữa tháng 9/2024, các mặt hàng rau xanh tăng giá mạnh do ảnh hưởng của cơn bão số 3 Yagi, tình hình rau mầu bị ngập úng nhiều dẫn đến nguồn cung khan hiếm. Theo ghi nhận tại các chợ truyền thống trên địa bàn Hà Nội, hầu hết các loại rau xanh tăng giá khoảng 45 – 50 % so với tháng trước đó, có mặt hàng thậm chí đắt gấp đôi. Cụ thể, mặt hàng cà chua từ 20.000 đồng tăng lên 30.000 đồng/kg, khoai tây từ 20.000 đồng tăng lên 25.000 đồng/kg,… Theo Trung tâm Khuyến nông tỉnh Lâm Đồng, trong tháng 9, do thị trường tiêu thụ mạnh nên giá trung bình các loại nông sản trên địa bàn có xu hướng tăng so với tháng 8; trong đó, cà chua có giá 21.000 đồng/kg, tăng 7.000 đồng/kg; ớt chuông Đà Lạt (màu vàng và đỏ) 30.500 – 31.000 đồng/kg, tăng 2.500 – 3.000 đồng/kg,… Trong khi một số loại rau củ khác giá giữ ở mức cao như bó xôi 26.000 đồng/kg, đậu leo 16.000 đồng/kg, súp lơ xanh 18.000 đồng/kg, rau xà lách 8.000 – 10.000 đồng/kg. Đối với mặt hàng trái cây các loại, giá các loại trái cây vẫn duy trì ở mức ổn định trong tháng 7,8 và tăng giá nhẹ vào thời điểm giữa tháng 9.
(Nguồn: Tham khảo tại Website một số Sở Nông nghiệp và PTNT, Sở Công thương trên cả nước và một số chuyên trang thị trường, giá cả sản phẩm nông nghiệp).
II. GIÁ CẢ THỊ TRƯỜNG VÀ DỰ BÁO, ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT CÁC SẢN PHẨM NÔNG, LÂM, THỦY SẢN TRONG TỈNH
- Giá các sản phẩm từ cây có hạt: gạo, ngô, đậu…
Tại thị trường lúa gạo Thanh Hóa, theo khảo sát tại một số chợ lớn trên địa bàn tỉnh như: TP. Thanh Hóa, Thọ Xuân, Nghi Sơn…giá lúa gạo tại các thời điểm được khảo sát trong quý III/2024 giá gạo các loại vẫn duy trì ổn định so với các tháng quý II/2024. Giá một số loại gạo thông dụng như: Quy Năm, BC, Bắc Thịnh, Tám Thơm…tại thời điểm đầu tháng 9/2024, giá gạo tăng nhẹ so với tháng 8/2024. Nguyên nhân được cho là do ảnh hưởng nghiêm trọng bởi cơn bão số 3 khiến nguồn cung thiếu hụt. Đối với một số sản phẩm từ cây có hạt khác như: ngô, đậu…tại thị trường trong tỉnh, giá ghi nhận tại thời điểm tháng 9/2024 cũng tăng nhẹ so với tháng 8/2024.
Dự báo, đánh giá tình hình sản xuất cây có hạt: lúa, gạo, ngô…trong tỉnh:
Với thời tiết diễn biến khó lường như những năm gần đây, theo dự báo năm nay nước ta có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều cơn bão ngoài biển Đông trong đó có Thanh Hoá, dự báo tình hình sản xuất lúa gạo trong vụ đông năm nay ở Thanh Hóa có thể gặp nhiều khó khăn. Với thời điểm thu hoạch vào tháng 10, khiến nguồn cung lúa gạo trong quý IV/2024 sẽ khá dồi dào, dự báo giá cả sản phẩm lúa gạo có thể giữ nguyên hoặc giảm nhẹ trong thời điểm đầu quý IV/2024. Các sản phẩm từ cây có hạt khác như: ngô, đậu… dự báo giá có thể vẫn duy trì, dự báo tình hình sản xuất các sản phẩm từ cây có hạt trong tỉnh bước sang quý IV/2024 có thể giảm sản lượng do ảnh hưởng xấu của thời tiết diễn ra thất thường.
- Giá sản phẩm rau quả:
Với tình hình thời tiết nắng nóng diễn ra trong thời gian dài kết hợp ảnh hưởng từ cơn bão số 3 khiến rau màu bị thiệt hại dẫn đến nguồn cung bị hạn chế. Cùng với đó là dịp nghỉ lễ 2/9 kéo dài trong nhiều ngày khiến nhu cầu tiêu thụ các mặt hàng rau củ quả tăng mạnh trong thời điểm đầu tháng 9/2024 dẫn đến giá các loại rau củ quả tăng cao. Theo khảo sát nhanh tại các chợ trên địa bàn tỉnh, thời điểm đầu tháng 9/2024 giá các loại rau xanh như: bắp cải, cải ngọt, khoai tây, dưa chuột, cà chua…. giá tăng từ 2.000 – 5.500 đồng/kg. Đối với mặt hàng trái cây các loại, tất cả các mặt hàng ghi nhận tại các điểm khảo sát đều tăng cao hơn so với tháng 8 do tình hình mưa bão, ngập lụt diễn ra trên diện rộng khiến nguồn cung thiếu hụt.
Dự báo, đánh giá tình hình sản xuất sản phẩm rau, quả trong tỉnh:
Với tình hình thời tiết diễn ra thất thường như hiện nay, nhất là khi Thanh Hoá có thể bị ảnh hưởng mạnh bởi các cơn bão, dự báo các hoạt động trồng trọt các sản phẩm rau củ quả trong những tháng cuối năm 2024 có thể bị ảnh hưởng. Trong bối cảnh đó, dự báo giá cả tất cả các mặt hàng rau quả đồng loạt leo thang, giá một số loại rau quả có thể tăng nhanh theo xu hướng chung trong thời gian sắp tới. Đối với một số loại rau củ vụ đông như: cải bắp, khoai tây,…dự báo giá có thể giảm nhẹ vào thời điểm cuối quý IV do đã bước vào chính vụ. Đối với sản phẩm ổi hiện nay ở Thanh Hoá, nhiều địa phương đã có thể trồng quanh năm thay vì một vụ như trước đấy khiến nguồn cung sẽ tương đối ổn định, dự báo giá ổi sẽ vẫn duy trì và giữ mức ổn định như hiện nay.
- Giá sản phẩm chăn nuôi và nuôi trồng thủy hải sản:
Theo ghi nhận tại nhiều điểm chợ trên địa bàn toàn tỉnh, giá thịt lợn hơi trong tỉnh vẫn giữ ở mức cao theo giá chung cả nước, giá thịt lợn hơi trung bình tại thời điểm đầu tháng 9/2024 duy trì ở mức 67.750 đồng/kg. Nguyên nhân được cho là do dịch tả lợn châu Phi tiếp tục bùng phát trở lại khiến nguồn cung thịt lợn thiếu hụt khiến giá lợn tăng cao. Giá các mặt hàng thịt bò, thịt gia cầm vẫn duy trì ở mức ổn định và có xu hướng tăng nhẹ. Sản phẩm trứng gia cầm đang trên đà hồi phục, ghi nhận tại các điểm chợ khảo sát, giá trứng gà ta có giá dao động từ 3.396 đồng/quả (tăng 120 đồng), giá trứng gà công nghiệp tăng nhẹ 2.633 đồng/quả (tăng 115 đồng/quả). Tuy nhiên, giá sản phẩm trứng gia cầm vẫn còn thấp, gần như chỉ bằng hoặc nhỉnh hơn một chút so với với giá thành chăn nuôi nên người chăn nuôi hiện vẫn chưa có lãi nhiều.
Thị trường thủy hải sản cũng ghi nhận sự tăng giá mạnh trong tháng 7, tháng 8 và đầu tháng 9/2024 do nhu cầu tiêu thụ vào các tháng hè cao điểm và dịp lễ 2/9 là vô cùng lớn. Theo khảo sát tại một số điểm chợ giá các loại thủy hải sản đa phần tăng giá mạnh trong tháng 7 và tháng 8 do nhu cầu tiêu thụ tăng cao trên địa bàn tỉnh, đặc biệt là nhu cầu tiêu thụ của người dân và khách du lịch tăng cao đột biến tại các điểm du lịch biển nổi tiếng trong tỉnh như: Sầm Sơn, Hải Tiến,…Bước qua dịp nghỉ lễ mùng 2/9 giá các loại thuỷ hải sản như: cua bể, ghẹ đỏ, mực trứng,… bắt đầu giảm nhẹ vào thời điểm sau lễ do nhu cầu giảm mạnh.
Dự báo, đánh giá tình hình sản xuất các sản phẩm chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ hải sản trong tỉnh:
Về sản xuất, với tình hình dịch tả lợn châu Phi vẫn diễn biến phức tạp như hiện nay dẫn đến tâm lý e ngại việc tái đàn khiến nhiều nguồn cung dự báo có thể giảm mạnh. Mặt khác khi bước vào thời điểm cuối năm nhu cầu tiêu thụ thịt lợn có thể tăng mạnh, dự báo giá thịt lợn hơi trên địa bàn tỉnh giá có thể sẽ tăng cao trong thời điểm cuối quý IV/2024. Ngược lại, các mặt hàng thủy hải sản có thể sẽ giảm giá sâu do nhu cầu tiêu thụ giảm mạnh, nhất là khi nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm thủy hản sản tại các điểm du lịch như: Sầm Sơn, Hải Tiến… đã không còn khi các điểm du lịch này đã kết thúc vụ hè. Giá các mặt hàng thuỷ hải sản có thể tăng nhẹ vào thời điểm cuối tháng 12/2024 do nhu cầu bắt đầu tăng mạnh khi chuẩn bị bước sang năm mới 2025. Dự báo tình hình sản xuất thuỷ hải sản trong tỉnh bước sang đầu quý IV/2024 có thể giảm nhẹ và tăng trở lại vào thời điểm cuối quý IV/2024. Đối với sản phẩm thịt bò và thịt gia cầm, với tình hình nhu cầu tăng trở lại tại thời điểm cuối năm, dự báo giá có thể tăng nhẹ, tình hình sản xuất các sản phẩm thịt bò và thịt gia cầm vẫn duy trì ổn định và có thể tăng cao trong những tháng cuối năm để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ dịp Tết Nguyên đán 2025. Đối với mặt hàng trứng gia cầm, dự báo giá có thể tăng nhẹ, tuy nhiên giá bán chỉ ngang hoặc nhỉnh hơn một chút so với giá sản xuất có thể khiến nhiều hộ chăn nuôi lo sợ thua lỗ và có thể thu hẹp quy mô chăn nuôi.
BẢNG THAM KHẢO GIÁ CÁC SẢN PHẨM NÔNG, LÂM, THỦY SẢN TÍNH ĐẾN NGÀY 25/9/2024
(ĐVT: Đồng)
| SẢN PHẨM NÔNG NGHIỆP | ĐVT | TB THÁNG 7 | TB THÁNG 8 | TB THÁNG 9 | GIÁ TB 3 THÁNG | |
| I | Sản phẩm thủy, hải sản | |||||
| 1 | Ngao trắng (cỡ vừa) | Kg ( bán lẻ) | 20.375 | 20.500 | 20.375 | 20.417 |
| 2 | Cua bể | Kg ( bán lẻ) | 480.000 | 468.750 | 457.500 | 468.750 |
| 3 | Cá Rô Phi | Kg ( bán lẻ) | 42.875 | 44.000 | 44.000 | 43.625 |
| 4 | Cá Thu tươi | Kg ( bán lẻ) | 245.625 | 241.250 | 242.500 | 243.125 |
| 5 | Ghẹ đỏ | Kg ( bán lẻ) | 443.750 | 430.000 | 423.750 | 432.500 |
| 6 | Mực trứng | Kg ( bán lẻ) | 287.500 | 278.750 | 277.500 | 281.250 |
| 7 | Tôm thẻ (cỡ 20-25 con/kg) | Kg ( bán lẻ) | 251.250 | 255.000 | 260.000 | 255.417 |
| 8 | Cá chép | Kg ( bán lẻ) | 60.625 | 60.250 | 61.250 | 60.708 |
| 9 | Cá quả | Kg ( bán lẻ) | 71.250 | 71.625 | 71.625 | 71.500 |
| 10 | Cá trắm | Kg ( bán lẻ) | 72.500 | 73.750 | 73.750 | 73.333 |
| II | Sản phẩm chăn nuôi | |||||
| 1 | Gà ta | Kg ( bán lẻ) | 123.750 | 126.875 | 126.875 | 125.833 |
| 2 | Gà công nghiệp | Kg ( bán lẻ) | 69.000 | 69.750 | 69.250 | 69.333 |
| 3 | Vịt sống | Kg ( bán lẻ) | 61.875 | 62.875 | 65.000 | 63.250 |
| 4 | Thịt bò loại 1 | Kg ( bán lẻ) | 241.875 | 242.500 | 245.000 | 243.125 |
| 5 | Thịt lợn hơi | Kg | 66.750 | 66.750 | 67.750 | 67.083 |
| 6 | Trứng gà ta | Quả | 3.300 | 3.400 | 3.488 | 3.396 |
| 7 | Trứng gà công nghiệp | Quả | 2.575 | 2.613 | 2.713 | 2.633 |
| 8 | Trứng vịt thường | Quả | 2.850 | 2.850 | 2.863 | 2.854 |
| III | Sản phẩm trồng trọt | |||||
| Sản phẩm cây có hạt | ||||||
| 1 | Gạo BC | Kg ( bán lẻ) | 17.313 | 17.813 | 18.125 | 17.750 |
| 2 | Gạo Quy Năm | Kg ( bán lẻ) | 15.813 | 16.125 | 16.500 | 16.146 |
| 3 | Gạo Tám Thơm | Kg ( bán lẻ) | 20.750 | 20.938 | 21.625 | 21.104 |
| 4 | Gạo Bắc Thịnh | Kg ( bán lẻ) | 18.563 | 18.875 | 19.625 | 19.021 |
| 5 | Gạo nếp cái hoa vàng | Kg ( bán lẻ) | 34.625 | 35.875 | 36.125 | 35.542 |
| 6 | Ngô nếp | Chục | 31.000 | 32.875 | 37.875 | 33.917 |
| 7 | Ngô ngọt | Chục | 41.625 | 44.375 | 49.625 | 45.208 |
| 8 | Khoai lang vàng | Kg ( bán lẻ) | 18.875 | 22.750 | 26.375 | 22.667 |
| 9 | Đậu tương | Kg ( bán lẻ) | 46.250 | 46.250 | 46.750 | 46.417 |
| 10 | Đậu đen | Kg ( bán lẻ) | 58.125 | 58.125 | 58.125 | 58.125 |
| 11 | Lạc bóc vỏ | Kg ( bán lẻ) | 61.000 | 63.000 | 63.000 | 62.333 |
| Sản phẩm cây ăn quả | ||||||
| 1 | Cam Sành | Kg ( bán lẻ) | 22.500 | 22.750 | 23.875 | 23.042 |
| 2 | Dưa hấu | Kg ( bán lẻ) | 11.500 | 12.875 | 14.500 | 12.958 |
| 3 | Ổi | Kg ( bán lẻ) | 15.000 | 15.250 | 17.250 | 15.833 |
| 4 | Xoài | Kg ( bán lẻ) | 25.875 | 30.375 | 32.250 | 29.500 |
| 5 | Thanh long | Kg ( bán lẻ) | 31.875 | 31.875 | 33.250 | 32.333 |
| 6 | Dứa | Kg ( bán lẻ) | 11.250 | 12.125 | 13.500 | 12.292 |
| 7 | Dưa vàng | Kg ( bán lẻ) | 36.375 | 36.375 | 38.250 | 37.000 |
| Sản phẩm Rau, củ đậu các loại | ||||||
| 1 | Hành khô | Kg ( bán lẻ) | 61.875 | 63.000 | 65.250 | 63.375 |
| 2 | Tỏi | Kg ( bán lẻ) | 55.250 | 56.000 | 56.250 | 55.833 |
| 3 | Đậu bắp | Kg ( bán lẻ) | 16.750 | 18.125 | 21.375 | 18.750 |
| 4 | Rau cải ngọt | Kg ( bán lẻ) | 17.125 | 17.875 | 21.375 | 18.792 |
| 5 | Dưa chuột | Kg ( bán lẻ | 16.875 | 18.625 | 21.750 | 19.083 |
| 6 | Cà chua | Kg ( bán lẻ) | 27.500 | 32.000 | 34.250 | 31.250 |
| 7 | Hành tây | Kg ( bán lẻ) | 18.750 | 18.750 | 19.000 | 18.833 |
| 8 | Khoai tây | Kg ( bán lẻ) | 18.375 | 19.500 | 23.125 | 20.333 |
| 9 | Bắp cải | Kg ( bán lẻ) | 11.125 | 13.375 | 17.250 | 13.917 |
Mạnh Tùng