I. TÌNH HÌNH CHUNG THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC VÀ QUỐC TẾ
- Thị trường quốc tế:
Tại thị trường gạo thế giới, tại một số Quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu, giá gạo xuất khẩu của Ấn Độ giảm tuần thứ ba liên tiếp, xuống mức thấp nhất trong 15 tháng do đồng rupee mất giá và nguồn cung tăng. Thời điểm giữa tháng 11/2024 giá gạo đồ 5% tấm của Ấn Độ được báo giá ở mức 440 – 447 USD/tấn, mức thấp nhất kể từ tháng 7/2023. Trong khi đó tại thị trường gạo Thái Lan, tại thời điểm giữa tháng 11/2024 các thương nhân cho biết gạo 5% tấm của Thái Lan được báo giá ở mức 490 USD/tấn, trong bối cảnh đồng USD tăng giá sau cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ.
Giá ngô tại tất cả các thị trường xuất khẩu chính trên thế giới trong tháng 10/2024 tăng so với tháng 9/2024 do nguồn cung tiếp tục giảm và tình trạng khô hạn trong quá trình gieo trồng ở Nam Mỹ đã khiến nguồn cung lại càng hạn chế hơn. Cụ thể, giá ngô tại thị trường Mỹ tăng 6 USD/tấn lên 211 USD/tấn. Giá ngô tại thị trường Brazil tăng 9 USD/tấn lên 213 USD/tấn, trong khi giá ngô tại thị trường Achentina tăng 20 USD/tấn lên 211 USD/tấn. Giá ngô tại thị trường Ukraine tăng 18 USD/tấn lên 220 USD/tấn.
Giá đậu tương kỳ hạn tại Sàn giao dịch hàng hóa Chicago (Mỹ) giảm trong phiên đầu tháng 11/2024, sau khi đạt mức cao nhất của gần một tháng trong phiên trước đó, nhờ động lực từ sự phục hồi của thị trường dầu thực vật. Vào thời điểm đầu tháng 11/2024, giá đậu tương kết thúc xu hướng đi ngang kéo dài từ đầu tháng 9 với mức tăng 2,69% đưa giá mặt hàng này lên mức 381 USD/tấn. Tại thị trường Brazil, vào thời điểm đầu tháng 11/2024 giá đậu tương hợp đồng tháng 12 dẫn đầu đà tăng của cả nhóm với mức tăng lên tới gần 3% đưa mức giá niêm yết của mặt hàng này lên mức 362,3 USD/tấn.
Tại thị trường thịt lợn Mỹ, chốt phiên giao dịch cuối tháng 10/2024, giá thịt lợn giao kỳ hạn tháng 12/2024 trên sàn CME tăng 0,45 xu lên 78,275 xu/Lb. Giá thịt lợn kỳ hạn tăng do giá thịt lợn bán buôn tăng và giao dịch cuối phiên tăng. Trong khi đó tại thị trường thịt lợn Trung Quốc, giá lợn hơi đã giảm liên tiếp trong tháng 10/2024, giá hiện giữ ổn định ở mức 18,01 nhân dân tệ/kg (1,14 USD/lb).
Tại thị trường tôm Trung Quốc, vào thời điểm đầu tháng 10/2024, giá tôm nhìn chung có xu hướng tăng nhẹ. Cụ thể, tại tỉnh Quảng Đông, vùng nuôi tôm lớn nhất Trung Quốc, giá tôm 60 con/kg tăng lên 43,1 NDT/kg (6,13 USD/kg). Giá tôm tại tỉnh Quảng Tây cũng tăng, với tôm 60 con/kg ở mức 47 NDT/kg. Giá vẫn giữ nguyên ở tỉnh Giang Tô ở mức 42 NDT/kg đối với tôm 60 con/kg và tỉnh Sơn Đông ở mức 33 NDT/kg. Với kỳ vọng lớn về nhu cầu trong kỳ nghỉ sau khi Bắc Kinh công bố biện pháp kích thích kinh tế gần đây, nhiều nông dân Trung Quốc đã hoãn thu hoạch, dẫn đến nguồn cung thấp và giá tăng ở hầu hết các khu vực. Trong khi đó, tại thị tường tôm khu vực Đông Nam Á, tại thị trường Thái Lan, giá tôm thẻ chân trắng 60 con/kg hiện đã tăng lên so với mùa hè, vượt qua giá tôm thẻ chân trắng ngoài Trung Quốc, đạt mức trung bình 4,61 USD/kg những tuần đầu tháng 10/2024. Đứng thứ hai là tôm thẻ chân trắng Việt Nam với giá 4,27 USD/kg, trong khi tôm Indonesia đứng thứ ba với giá 4,02 USD/kg.
(Nguồn: Tham khảo tại Website của Bộ Nông nghiệp & PTNT, Bộ Công thương và một số các chuyên trang thị trường, giá cả sản phẩm nông nghiệp,….).
- Thị trường trong nước:
Trên thị trường xuất khẩu, tại thời điểm cuối tháng 11/2024, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam có sự giảm nhẹ so với các tháng trong quý III/2024. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), gạo 100% tấm có giá 410 USD/tấn, gạo 25% tấm có giá 485 USD/tấn và gạo 5% tấm có giá 520 USD/tấn. Trong khi đó tại thị trường gạo trong nước, giá gạo không có nhiều biến động, ghi nhận tại nhiều địa phương như: Cần Thơ, Tiền Giang, An Giang, Đồng Tháp, Sóc Trăng, Kiên Giang,…vào thời điểm cuối tháng 11/2024, đối với mặt hàng gạo, giá gạo có xu hướng đi ngang và vẫn duy trì ổn định. Tại các chợ lẻ, giá gạo tẻ thường dao động quanh mốc 16.000 – 17.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài giá dao động trong khoảng từ 20.000 – 21.500 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 21.000 đồng/kg. Giá ngô và một số loại đậu không có nhiều biến động, duy trì ổn định trong tháng 11 và 12/2024.
Tại thời điểm cuối tháng tháng 11/2024, giá lợn hơi trên cả nước có xu hướng giảm so với tháng trước đó, giá dao động trong khoảng từ 59.000 – 63.000 đồng/kg, giảm từ 2.000 – 4.000 đồng/kg so với các tháng quý III. Cụ thể, giá lợn hơi tại khu vực miền Bắc dao động trong khoảng từ 61.000 – 63.000 đồng/kg, giảm 1.000 – 2.000 đồng/kg so với quý trước. Tại khu vực miền Trung và Tây Nguyên, giá lợn hơi dao động trong khoảng 59.000 – 61.000 đồng/kg, giảm 2.000 – 4.000 đồng/kg so với quý trước. Tại khu vực miền Nam, giá lợn hơi dao động trong khoảng từ 61.000 – 63.000 đồng/kg, giảm 1.000 – 3.000 đồng/kg so với quý trước. Tuy nhiên, bước sang tháng 12/2024, giá thịt lợn hơi cả nước đồng loạt tăng thêm từ 1.000 – 2.000 đồng/kg. Đối với sản phẩm thịt bò, thịt gia cầm nhìn chung trên địa bàn cả nước, giá vẫn duy trì ổn định ở các tháng 10, 11 và có xu hướng tăng dần vào thời điểm cuối năm. Thời điểm đầu tháng 11/2024, giá thịt bò ghi nhận ở nhiều địa phương vẫn giữ vững ở mức giá cao, giá thịt bò loại 1 trung bình đạt 241.000 đồng/kg. Sản phẩm trứng gia cầm thời điểm đầu tháng 12/2024 đã bắt đầu tăng giá trở lại ở mức tốt. Theo ghi nhận giá trứng gia cầm đã nhích dần lên trung bình từ 2.862 đồng/quả (tăng 200 đồng/quả so với tháng quý III/2024), tùy từng loại.
Giá tôm tại các tỉnh ĐBSCL trong tháng 10/2024 tiếp tục duy trì ở mức cao, tăng cao nhất trong 3 tháng qua; giá tôm sú, tôm thẻ chân trắng thương phẩm tăng từ 3.000 – 10.000 đồng/kg. Theo ghi nhận tại Bạc Liêu, Cà Mau giá tôm thẻ có xu hướng tăng nhẹ. Cụ thể, hiện tại, giá tôm thẻ được mua tại ao loại 30 con/kg có giá từ 165.000/kg; loại 40 con/kg có giá 135.000/kg – 140.000 đồng/kg; loại 50 con/kg giá thu mua 120.000 đồng/kg. Đây là mức giá tôm thẻ chân trắng tăng cao nhất trong vòng 3 tháng qua. Một số loại mặt hàng thuỷ hải sản khác như: cua, mực, cá… giá có xu hướng giảm nhẹ trong tháng 10, 11 do sức mua giảm. Tuy nhiên bước vào cuối tháng 12 giá cả các mặt hàng thuỷ hải sản có xu hướng tăng trở lại do nhu cầu tiêu thụ của thị trường về các mặt hàng này tăng cao khi chuẩn bị bước sang năm mới 2025.
Tại thời điểm đầu tháng 10/2024, các mặt hàng rau xanh giá đã hạ nhiệt và bình ổn trở lại sau thời gian tăng giá mạnh do ảnh hưởng của cơn bão số 3 Yagi. Theo ghi nhận tại các chợ truyền thống trên địa bàn Hà Nội, hầu hết các loại rau xanh đều giữ nguyên hoặc giảm giá so với tháng trước đó. Cụ thể, mặt hàng cà chua giá từ 30.000 đồng xuống còn 25.000 đồng/kg, khoai tây giá từ 25.000 đồng xuống còn 20.000 đồng/kg, rau cải ngọt có giá 25.000/kg; bí xanh giá dao động từ 20.000 đồng – 23.000 đồng/kg, đã giảm đáng kể so với thời điểm sau bão số 3. Tại thị trường rau quả lớn nhất cả nước là Lâm Đồng, trong tháng 11/2024, do nhu cầu thị trường tiêu thụ giảm nên giá trung bình các loại nông sản như xà lách, đậu leo, súp lơ xanh, cải bó xôi,… đều giảm so với tháng 10/2024, cụ thể: xà lách 10.400 đồng/kg, giảm 600 đồng/kg; đậu leo 18.000 đồng/kg, giảm 4.250 đồng/kg; súp lơ xanh 24.800 đồng/kg, giảm 2.450 đồng/kg; cải bó xôi 28.600 đồng/kg, giảm 1.900 đồng/kg so với tháng 10/2024.
(Nguồn: Tham khảo tại Website một số Sở Nông nghiệp và PTNT, Sở Công thương trên cả nước và một số chuyên trang thị trường, giá cả sản phẩm nông nghiệp).
II. GIÁ CẢ THỊ TRƯỜNG VÀ DỰ BÁO, ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT CÁC SẢN PHẨM NÔNG, LÂM, THỦY SẢN TRONG TỈNH
- Giá các sản phẩm từ cây có hạt: gạo, ngô, đậu…
Tại thị trường lúa gạo Thanh Hóa, theo khảo sát tại một số chợ lớn trên địa bàn tỉnh như: TP. Thanh Hóa, Thọ Xuân, Nghi Sơn…giá lúa gạo tại các thời điểm được khảo sát trong quý IV/2024 giá gạo các loại vẫn duy trì ổn định so với các tháng quý III/2024. Giá một số loại gạo thông dụng như: Quy Năm, BC, Bắc Thịnh, Tám Thơm…tại thời điểm đầu tháng 11/2024, giá gạo vẫn duy trì ở mức cao so với với tháng 10/2024. Đối với một số sản phẩm từ cây có hạt khác như: ngô, đậu…tại thị trường trong tỉnh, giá ghi nhận tại thời điểm tháng 11/2024 vẫn duy trì ổn định so với các tháng trước đó.
Dự báo, đánh giá tình hình sản xuất cây có hạt: lúa, gạo, ngô…trong tỉnh:
Với nhu cầu tiêu thụ lúa gạo tăng cao dịp cuối năm, dự báo giá lúa gạo có thể tăng nhẹ trong dịp trước tết Nguyên đán 2025. Với tình hình thời tiết chịu ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu toàn cầu khiến mùa đông năm nay ở nước ta rét muộn hơn so với mọi năm, sự xáo trộn thời tiết có thể khiến năng suất, sản lượng lúa gạo thay đổi. Khuyến cáo các cơ quan chức năng cần bám sát tình hình thời tiết cuối năm và có kế hoạch chuẩn bị xuống giống phù hợp trong vụ hè xuân sắp tới để đạt năng suất, sản lượng tốt nhất. Các sản phẩm từ cây có hạt khác như: ngô, đậu… dự báo giá có thể vẫn duy trì, dự báo tình hình sản xuất các sản phẩm từ cây có hạt trong tỉnh bước sang quý I/2025 có thể duy trì sản lượng nếu thời tiết thuận lợi và không xảy ra trường hợp thời tiết cực đoan như: sương muối, băng giá kéo dài.
- Giá sản phẩm rau quả:
Theo khảo sát nhanh tại các điểm chợ trên địa bàn toàn tỉnh, giá các sản phẩm rau quả tại thời điểm đầu tháng 11/2024 có xu hướng hạ nhiệt so với các tháng trước đó nhưng vẫn giữ ở mức cao, giá các loại rau xanh bước vào vụ Đông như: bắp cải, cải ngọt, khoai tây, dưa chuột, su hào…. giá giảm từ 500 – 2.500 đồng/kg. Bước sang tháng 12/2024, giá một số sản phẩm bước vào chính vụ (vụ Đông) giá giảm sâu từ 3.000 – 5.000 đồng/kg. Đối với mặt hàng trái cây các loại, giá các mặt hàng này đã ổn định và tăng nhẹ vào thời điểm cuối tháng 12/2024 do sức mua tăng trở lại. Một số loại trái cây bước vào vụ thu hoạch như: cam, bưởi,… giá giảm sâu trong tháng 10,11 và bắt đầu tăng trở lại vào thời điểm cuối tháng 12/2024 do nhu cầu tăng mạnh.
Dự báo, đánh giá tình hình sản xuất sản phẩm rau, quả trong tỉnh:
Thời điểm đầu năm mới quý I/2025 sẽ diễn ra dịp tết Nguyên đán sẽ nhu cầu tiêu thụ các mặt hàng rau, củ, quả sẽ tăng nhanh trong tháng 1, tháng 2/2025. Mặt khác, do ảnh hưởng của thời tiết có thể sẽ diễn biến phức tạp gây ảnh hưởng tới năng suất, chất lượng các loại sản phẩm rau, củ, quả. Dự báo giá cả các mặt hàng rau, củ, quả trong quý I/2025 sẽ tăng giá nhẹ trước trong và sau dịp nghỉ tết Nguyên đán. Dự báo tình hình sản xuất rau, củ, quả trong tỉnh quý I/2025 sẽ tăng nhanh do nhu cầu tăng cao vào dịp tết 2025.
- Giá sản phẩm chăn nuôi và nuôi trồng thủy hải sản:
Theo ghi nhận tại nhiều điểm chợ trên địa bàn toàn tỉnh, giá thịt lợn hơi trong tỉnh đã giảm theo giá chung cả nước, giá thịt lợn hơi trung bình tại thời điểm đầu tháng 11/2024 giảm về mức 61.000 đồng/kg. Nguyên nhân được cho do công tác tái đàn được đẩy mạnh khiến nguồn cung ổn định. Giá các mặt hàng thịt bò, thịt gia cầm vẫn duy trì ở mức ổn định và có xu hướng tăng nhẹ vào dịp cuối năm. Sản phẩm trứng gia cầm đang trên đà hồi phục, ghi nhận tại các điểm chợ khảo sát, giá trứng gà ta tại thời điểm đầu tháng 12/2024 có giá trung bình dao động từ 3.500 đồng/quả (tăng 50 đồng so với tháng 10/2024), giá trứng gà công nghiệp tại thời điểm đầu tháng 12/2024 tăng lên 2.588 đồng/quả (tăng 50 đồng/quả so với tháng 10/2024).
Giá cả các mặt hàng thủy hải sản trong tỉnh như: ngao, tôm, mực, cá các loại… có xu hướng giảm nhẹ vào thời điểm cuối tháng 11/2024 do nguồn cung dồi dào khi bước vào vụ thu hoạch, cùng với đó là nhu cầu giảm do người dân thắt chặt chi tiêu và các khu du lịch biển như: Sầm Sơn, Hải Tiến…đã hết khách khiến nhu cầu sử dụng các mặt hàng thuỷ hải sản giảm mạnh. Tuy nhiên bước sang tháng 12/2024, giá cả các mặt hàng thuỷ hải sản có dấu hiệu phục hồi do nhu cầu tăng trở lại thời điểm cận kề tết năm 2025.
Dự báo, đánh giá tình hình sản xuất các sản phẩm chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ hải sản trong tỉnh:
Về sản xuất, với tình hình giá lợn hơi xuống thấp như hiện nay có thể người chăn nuôi vẫn duy trì sản lượng hoặc có thể cắt giảm sản xuất, như vậy giá lợn hơi dịp đầu năm 2025 có thể tăng trở lại khi nguồn cung bị hạn chế và nhu cầu tiêu thụ thịt lợn dịp tết Nguyên Đán là rất lớn. Dự báo giá thịt lợn hơi sẽ duy trì và giá có thể sẽ tăng vào những tháng đầu năm 2025. Dự báo tình hình chăn nuôi gia súc, gia cầm trong tỉnh sẽ duy trì bình ổn trong thời gian sắp tới. Ngoài ra, các hoạt động nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản có thể duy trì ổn định và sẽ tăng nhanh vào những tháng đầu năm 2025 do nhu cầu tiêu thụ vào các mặt hàng này có thể tăng cao cho dịp tết Nguyên đán 2025 và chuẩn bị bước vào vụ hè (là thời điểm nhu cầu tiêu thụ thuỷ hải sản tăng cao nhất trong năm).
Đối với sản phẩm thịt bò và thịt gia cầm, với tình hình nhu cầu tăng trở lại tại thời điểm đầu năm 2025, dự báo giá có thể tăng nhẹ, tình hình sản xuất các sản phẩm thịt bò và thịt gia cầm vẫn duy trì ổn định và có thể tăng cao trong những tháng đầu năm 2025 để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ dịp Tết Nguyên đán 2025. Đối với mặt hàng trứng gia cầm, dự báo giá có thể duy trì hoặc giảm nhẹ vào thời điểm sau tết do nhu cầu giảm mạnh vì người dân có xu hướng tích trữ thực phẩm sau tết còn tồn đọng nhiều. Khuyến cáo người chăn nuôi nên cân nhắc có thể giảm sản lượng chăn nuôi để tránh tình trạng rớt giá mạnh do nguồn cung dư thừa giống như đầu năm 2024 vừa diễn ra.
BẢNG THAM KHẢO GIÁ CÁC SẢN PHẨM NÔNG, LÂM, THỦY SẢN TÍNH ĐẾN NGÀY 25/12/2024
(ĐVT: Đồng)
| SẢN PHẨM NÔNG NGHIỆP | ĐVT | GIÁ TB THÁNG 10 | GIÁ TB THÁNG 11 | GIÁ TB THÁNG 12 | GIÁ TB 3 THÁNG | |
| I | Sản phẩm thủy, hải sản | |||||
| 1 | Ngao trắng (cỡ vừa) | Kg ( bán lẻ) | 19.125 | 19.125 | 19.375 | 19.208 |
| 2 | Cua bể | Kg ( bán lẻ) | 415.000 | 415.000 | 420.000 | 416.667 |
| 3 | Ghẹ đỏ | Kg ( bán lẻ) | 320.000 | 316.250 | 327.500 | 321.250 |
| 4 | Cá Thu tươi | Kg ( bán lẻ) | 238.750 | 242.500 | 242.500 | 241.250 |
| 5 | Mực trứng | Kg ( bán lẻ) | 247.500 | 221.750 | 252.500 | 240.583 |
| 6 | Tôm thẻ (cỡ 20-25 con/kg) | Kg ( bán lẻ) | 238.750 | 242.500 | 246.250 | 242.500 |
| 7 | Cá Rô Phi | Kg ( bán lẻ) | 43.500 | 42.500 | 42.500 | 42.833 |
| 8 | Cá chép | Kg ( bán lẻ) | 59.625 | 58.750 | 58.750 | 59.042 |
| 9 | Cá quả | Kg ( bán lẻ) | 70.625 | 70.000 | 71.250 | 70.625 |
| 10 | Cá trắm | Kg ( bán lẻ) | 70.625 | 70.625 | 71.250 | 70.833 |
| II | Sản phẩm chăn nuôi | |||||
| 1 | Gà ta | Kg ( bán lẻ) | 122.500 | 123.750 | 126.250 | 124.167 |
| 2 | Gà công nghiệp | Kg ( bán lẻ) | 70.625 | 70.875 | 71.000 | 70.833 |
| 3 | Vịt sống | Kg ( bán lẻ) | 62.375 | 60.875 | 61.250 | 61.500 |
| 4 | Thịt bò loại 1 | Kg ( bán lẻ) | 240.625 | 240.625 | 241.500 | 240.917 |
| 5 | Thịt lợn hơi | Kg | 61.875 | 62.125 | 62.750 | 62.250 |
| 6 | Trứng gà ta | Quả | 3.450 | 3.475 | 3.500 | 3.475 |
| 7 | Trứng gà công nghiệp | Quả | 2.538 | 2.525 | 2.588 | 2.550 |
| 8 | Trứng vịt thường | Quả | 2.763 | 2.813 | 2.888 | 2.821 |
| III | Sản phẩm trồng trọt | |||||
| Sản phẩm cây có hạt | ||||||
| 1 | Gạo BC | Kg ( bán lẻ) | 16.188 | 16.063 | 15.875 | 16.042 |
| 2 | Gạo Quy Năm | Kg ( bán lẻ) | 15.688 | 15.688 | 15.813 | 15.729 |
| 3 | Gạo Tám Thơm | Kg ( bán lẻ) | 21.500 | 21.375 | 21.188 | 21.354 |
| 4 | Gạo Bắc Thịnh | Kg ( bán lẻ) | 18.500 | 18.563 | 18.375 | 18.479 |
| 5 | Gạo nếp cái hoa vàng | Kg ( bán lẻ) | 37.125 | 37.500 | 37.500 | 37.375 |
| 6 | Ngô nếp | Chục | 36.250 | 36.250 | 38.750 | 37.083 |
| 7 | Ngô ngọt | Chục | 48.125 | 50.000 | 52.500 | 50.208 |
| 8 | Khoai lang vàng | Kg ( bán lẻ) | 22.875 | 22.000 | 22.000 | 22.292 |
| 9 | Đậu tương | Kg ( bán lẻ) | 45.250 | 45.500 | 46.125 | 45.625 |
| 10 | Đậu đen | Kg ( bán lẻ) | 74.375 | 74.875 | 75.375 | 74.875 |
| 11 | Lạc bóc vỏ | Kg ( bán lẻ) | 75.250 | 76.375 | 77.000 | 76.208 |
| Sản phẩm cây ăn quả | ||||||
| 1 | Cam Sành | Kg ( bán lẻ) | 20.500 | 19.250 | 19.625 | 19.792 |
| 2 | Dưa hấu | Kg ( bán lẻ) | 13.625 | 12.875 | 13.125 | 13.208 |
| 3 | Ổi | Kg ( bán lẻ) | 15.125 | 18.125 | 20.625 | 17.958 |
| 4 | Xoài | Kg ( bán lẻ) | 26.000 | 26.625 | 27.500 | 26.708 |
| 5 | Bưởi diễn | Kg ( bán lẻ) | 12.500 | 10.750 | 9.750 | 11.000 |
| 6 | Dứa | Kg ( bán lẻ) | 12.500 | 12.500 | 12.500 | 12.500 |
| 7 | Dưa vàng | Kg ( bán lẻ) | 38.250 | 38.250 | 38.250 | 38.250 |
| Sản phẩm Rau, củ đậu các loại | ||||||
| 1 | Hành khô | Kg ( bán lẻ) | 60.500 | 59.875 | 61.500 | 60.625 |
| 2 | Tỏi | Kg ( bán lẻ) | 53.875 | 53.750 | 53.875 | 53.833 |
| 3 | Đậu co ve(xanh) | Kg ( bán lẻ) | 23.875 | 22.750 | 20.000 | 22.208 |
| 4 | Rau cải ngọt | Kg ( bán lẻ) | 16.250 | 12.625 | 9.500 | 12.792 |
| 5 | Dưa chuột | Kg ( bán lẻ | 17.250 | 15.250 | 13.750 | 15.417 |
| 6 | Cà chua | Kg ( bán lẻ) | 32.250 | 28.250 | 24.000 | 28.167 |
| 7 | Hành tây | Kg ( bán lẻ) | 18.125 | 18.500 | 18.500 | 18.375 |
| 8 | Khoai tây | Kg ( bán lẻ) | 19.875 | 17.625 | 17.000 | 18.167 |
| 9 | Bắp cải | Kg ( bán lẻ) | 15.750 | 12.500 | 10.250 | 12.833 |
Mạnh Tùng