Hiệu quả mô hình nuôi lươn không bùn tại xã Các Sơn, Thị xã Nghi Sơn

 

Tại xã Các Sơn, TX Nghi Sơn mô hình nuôi lươn không bùn của anh Nguyễn Văn Quý là một trong những mô hình nuôi trồng thủy sản điển hình của địa phương bởi hiệu quả kinh tế và những ưu điểm của mô hình mang lại, mở ra hướng đi mới trong sản xuất nông nghiệp không chỉ trong và ngoài địa phương.

(Hệ thống bể nuôi lươn không bùn của anh Nguyễn Văn Quý, xã Các Sơn, TX Nghi Sơn)

          Anh Nguyễn Văn Quý cho biết, thịt lươn là loại thịt được người tiêu dùng yêu thích và sử dụng nhiều bởi hương vị thơm ngon, hàm lượng dinh dưỡng cao, vì vậy giá trị lươn hiện nay trên thị trường khá cao. Lươn là loài có tập tính sống trong bùn lầy, vì vậy lâu nay người dân vẫn chủ yếu nuôi lươn bằng bùn. Tuy nhiên nuôi theo hình thức này có một số nhược điểm như: quản lý khó khăn hơn do môi trường sống trong bùn nên phải thường xuyên kiểm tra bể nuôi để tránh tình trạng ô nhiễm môi trường và kiểm soát mức độ bùn; khó kiểm soát bệnh tật ở lươn và số lượng lươn trong bể nuôi gây khó khăn trong việc chữa bệnh; giá thể nuôi là bùn đất, cành lá và cây chàm là chủ yếu khi thu hoạch cũng sẽ tốn nhiều công hơn. Vì vậy mô hình này có thể có hiệu suất kém hơn so với mô hình không sử dụng bùn. Từ đó anh quyết định tìm hiểu và học hỏi mô hình nuôi lươn không bùn tại một số tỉnh trong miền Nam, năm 2018 anh bắt đầu triển khai nuôi lươn không bùn theo công nghệ tuần hoàn tại địa phương. Diện tích khu nuôi được bố trí khoảng 200 m2 với 16 bể nuôi lươn thịt và 4 bể hệ thống lọc tuần hoàn. Phía trên bể sử dụng mái che bằng tôn và lá kè nhằm hạn chế ánh sáng chiếu trực tiếp vào bể làm nhiệt độ nước tăng cao ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của lươn. Để tiết kiệm diện tích xây dựng và dễ quản lý, khu nuôi thiết kế thành nhiều bể liên tiếp có diện tích từ 4 – 6m2/ô, độ sâu 1m. Đáy bể và thành bể đều được ốp gạch men giúp cho lươn không bị tổn thương, trầy xước. Bên cạnh đó, anh dành ra các bể để lắp đặt hệ thống bể lọc tuần hoàn, bao gồm bể lắng để tách lắng chất thải rắn, thức ăn dư thừa, bùn cặn còn nước thải được chuyển qua bể lọc cơ học gồm sỉ than tổ ong, đá nham thạch để xử lý các vi sinh vật bất lợi trong nước đồng thời bổ sung lại nguồn khoáng chất cho nước. Sau đó nước được tiếp tục chuyển sang bể xử lý sinh học được bổ sung các hạt kaldnes lọc nước, đây là hạt lọc động là môi trường lý tưởng cho các vi sinh vật có lợi neo bám, trú ngụ qua hoạt động đảo hạt kaldnes.  Đồng thời tại đây sẽ sử dụng thiết bị sục và kiểm soát oxy để bổ sung oxy cho các vi sinh vật có lợi trong nước. Cuối cùng nước qua xử lý sẽ được đưa vào bể lắng và tái sử dụng để nuôi lươn. Hệ thống vận hành hoàn toàn tự động, đồng thời có khả năng tách chất thải tự động khỏi nước nuôi lươn giúp loại bỏ công đoạn xả thải, tiết kiệm tài nguyên nước và bảo vệ môi trường. Hệ thống có thể tuần hoàn nước 100% và nước chỉ hao hụt do quá trình bốc hơi.

(Bể nuôi lươn thành phẩm)

          Lươn giống được anh nhập từ Trung tâm nghiên cứu và phát triển con giống và vật nuôi của trường Đại học thủy sản Cần Thơ. Thời gian nuôi khoảng 10 tháng từ tháng 2 đến tháng 12 và được chia làm hai giai đoạn: giai đoạn lươn nhỏ có mật độ thả từ 500 con/m2, giai đoạn nuôi lươn trưởng thành sẽ tiến hành phân cỡ và san bể với mật độ thả 200 – 300 con/m2 . Nguồn thức ăn được kết hợp giữa nguồn thức ăn tự nhiên như giun quế, trùn chỉ, ấu trùng ruồi đen với thức ăn công nghiệp được điều chỉnh theo tỷ lệ theo từng giai đoạn phát triển của lươn. Để phòng bệnh cho lươn, anh sử dụng tỏi cho lên men đồng thời bổ sung thêm vitamin, khoáng chất trong khẩu phần ăn để tăng cường sức đề kháng và khả năng chống chịu với một số bệnh như bệnh xuất huyết, đường ruột. Khi lươn đạt trọng lượng 300 – 400 gam/con là có thể xuất bán. Theo tính toán  của anh Quý, chi phí để nuôi được 1 kg lươn thương phẩm hết khoảng 90.000 – 100.000 đồng, với giá bán hiện nay là 160.000 – 180.000 đồng/kg. Sau mỗi lứa nuôi sẽ thu được khoảng 2 – 2,5 tấn lươn thương phẩm/năm, trừ mọi chi phí có thể đạt lợi nhuận khoảng 180 – 200 triệu đồng/năm. Lợi nhuận từ nuôi lươn không bùn mang lại hiệu quả kinh tế khá cao so với  một số mô hình nuôi trồng thủy sản khác. Sản phẩm của anh được khách hàng đánh giá cao bởi sản lượng, chất lượng lươn đồng đều, thịt lươn dai ngon. Để sản xuất bền vững, ổn định đầu ra anh đã tìm kiếm thị trường, liên kết với các đầu mối lớn để tiêu thụ sản phẩm. Nhờ đó đến nay, mỗi vụ xuất bán lươn thương phẩm của gia đình anh đều được thương lái thu mua và đưa đi tiêu thụ trong và ngoài tỉnh như Nghệ An, Hà Tĩnh, TP Hà Nội….

Anh Quý cho biết: Mô hình nuôi lươn không bùn áp dụng hệ thống tuần hoàn hiệu quả hơn nhiều so với mô hình nuôi lươn bùn bởi những ưu điểm: không cần diện tích đất rộng để xây bể, chi phí đầu tư bể nuôi thấp hoặc có thể tận dụng được các chuồng trại cũ; việc sử dụng hệ thống lọc tự làm sạch và tái sử dụng nguồn nước giúp quản lý hệ thống dễ dàng hơn, giảm tối đa tỷ lệ thay nước, ổn định chất lượng nước bể nuôi, kiểm soát được các điều kiện nuôi như nhiệt độ, lưu lượng nước và chất lượng nước tốt hơn giúp kiểm soát được mầm bệnh. Lươn sống trong điều kiện sạch sẽ nhanh lớn và ít bệnh tật hơn, hoặc nếu có cũng dễ phát hiện bệnh từ đó nhanh chóng có biện pháp xử lý, giảm nguy cơ hao hụt do bệnh tật, làm tăng sản lượng, cải thiện và làm gia tăng tốc độ tăng trưởng, lươn khỏe mạnh, chất lượng thịt lươn cũng ngon hơn. Qua thực tế cho thấy, với phương pháp nuôi này tỷ lệ sống của mô hình nuôi lươn không bùn có là 68-70% cao hơn mô hình nuôi lươn có bùn là 59,3%, có thể gia tăng mật độ nuôi gấp 3 – 5 lần, năng suất, giá trị cao gấp 2,5  lần so với mô hình nuôi lươn có bùn; việc sử dụng các giá thể như vỉ tre, dây nilon giúp việc thu hoạch trở nên dễ dàng, không tốn nhiều công sức. Mô hình này cũng góp phần xử lý được nguồn nước ô nhiễm và kiểm soát quá trình xả thải. Từ đó góp phần bảo vệ môi trường, hình thành và phát triển công nghệ nuôi tạo ra sản phẩm sạch, chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ.

Mô hình nuôi lươn không bùn của gia đình anh Nguyễn Văn Quý  là mô hình phát triển sản xuất nông nghiệp hiệu quả tại địa phương. Với mô hình này sẽ giúp nâng cao hiệu quả kinh tế cho các hộ sản xuất, đồng thời đáp ứng được các tiêu chí an toàn thực phẩm, an toàn sinh học, góp phần phát triển sản xuất nông nghiệp bền vững.

Phương Thúy