Hiệu quả mô hình ứng dụng khoa học vào sản xuất nấm theo hướng hữu cơ tại xã Quảng Lộc, huyện Quảng Xương
Nấm và các sản phẩm từ nấm luôn được người tiêu dùng quan tâm và có nhu cầu sử dụng cao, nắm bắt nhu cầu đó mô hình sản xuất nấm linh chi tại xã Quảng Lộc, huyện Quảng Xương được hình thành và phát triển vừa tạo ra sản phẩm chất lượng cao cung cấp cho thị trường, vừa giúp đa dạng sản phẩm nông nghiệp và nâng cao thu nhập cho người sản xuất.

(Sản phẩm nấm linh chi Hoàng Hậu)
Nấm linh chi (Ganoderma lucidum) thuộc họ Ganodermataceae, còn có tên gọi là tiên thảo, nấm trường thọ, vạn niên nhung,… Nấm linh chi là một dược liệu mà con người từ xa xưa đã biết đến và sử dụng dùng là vị thuốc quý có công dụng điều trị hoặc hỗ trợ điều trị các bệnh: viêm gan, các bệnh ung thư, chống dị ứng và chống viêm, chống oxy hóa, nâng cao hệ miễn dịch cơ thể, điều hòa và ổn định huyết áp, giảm cholesterol, hỗ trợ trong điều trị tiểu đường, bệnh dạ dày,… Nhận thấy nhu cầu ngày càng cao cao của người tiêu dùng về sử dụng các loại nấm như nấm linh chi, nâm sò, mộc nhĩ nấm dược liệu, anh Đào Văn Hoàng (thôn Lê Hương, xã Quảng Lộc) với đam mê và quyết tâm gắn bó với nông nghiệp sạch đã đi tham quan, học hỏi kinh nghiệm tại một các trang trại trồng trong và ngoài tỉnh, tìm tòi kiến thức qua sách báo, internet phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ Thanh Hóa,và để xây dựng mô hình, ứng dụng công nghệ vào sản xuất. Hiện tại trang trại được đầu tư xây dựng trên diện tích 15.000m2 với 7 nhà trồng nấm có diện tích từ 100 – 200m2/nhà đáp ứng các điều kiện về nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm để trồng nấm linh chi và các loại nấm sò, mộc nhĩ, ngoài ra còn có khu nhà nuôi cấy, nhà ươm bịch, khu xử lý nguyên liệu, khu đóng gói thành phẩm. Hệ thống máy móc trang thiết bị hiện đại bảo đảm sản xuất đồng bộ, khép kín với dây chuyền lò hấp sấy tiệt trùng, lò hấp phôi, nồi hơi, máy đóng bịch, đăng tải, máy trộn mùn, máy phá phôi, máy máy thái lát, hút chân không,…

Chia sẻ về kỹ thuật trồng nấm anh cho biết: “Kỹ thuật trồng nấm không khó nhưng để nấm sinh trưởng, phát triển tốt, không bị ảnh hưởng xấu của yếu tố môi trường thì phải tuân thủ theo đúng quy trình kỹ thuật từ khâu chuẩn bị nguyên liệu đóng bịch, đến cấy meo giống, chăm sóc và thu hoạch. Nguyên liệu sản xuất chủ yếu là mùn gỗ cây cao su, bổ sung thêm một số phụ gia, phối trộn thêm nhiều chất dinh dưỡng vi khoáng chất tự nhiên như bột cám, bột ngô, vỏ đậu nành, vôi,… được xử lý cẩn thận và khử trùng trước khi đưa vào đóng bịch. Các bịch phôi phải được đem xử lý nấm mốc, tránh mối mọt bằng cách hấp, sấy, tiệt trùng và được cấy mô, nuôi dưỡng trong phòng lạnh, sau đó cho ra môi trường tự nhiên. Các nhà trồng được thiết kế đảm bảo thông thoáng, đủ ánh sáng, đảm bảo nhiệt độ từ 200C đến 300C giúp các bịch phôi và nấm phát triển tốt, tỷ lệ đạt trên 90%. Nguồn nước tưới phải sạch tránh nhiễm bệnh cho nấm, tuỳ theo thời tiết mà tưới nhiều hay ít để tạo độ ẩm cho nhà trồng. Thời gian đầu vừa làm vừa học hỏi kiến thức, việc ứng dụng công nghệ trong các bước sản xuất còn hạn chế cũng như chưa làm chủ được các kỹ thuật về cấy giống, nuôi ủ nên số lượng phôi đạt tiêu chuẩn còn thấp, sản phẩm sau thu hoạch chưa được đẹp, năng suất chất lượng chưa cao. Trải qua quá trình làm và đúc rút kinh nghiệm cùng với áp dụng khoa học công nghệ trong quy trình sản xuất, đến nay anh đã nắm vững được kiến thức nuôi trồng để tạo ra được những sản phẩm nấm đẹp và tăng năng suất, chất lượng.Để tiết kiệm thời gian chăm sóc, đảm bảo lượng nước tưới cho nấm, anh còn lắp đặt thêm hệ thống tưới tự động được điều khiển qua điện thoại thông minh nên anh luôn chủ động quản lý, theo dõi được việc chăm sóc. Phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, mỗi lứa nấm trồng có thể cho thu hoạch sau 3-6 tháng nuôi và mỗi bịch giá thể có thể cho thu hoạch 2-3 lần vào thời điểm từ tháng 7 âm lịch đến tháng 4 âm lịch cho 2 vụ/năm. Giá thể nấm sau khi thu hoạch được tận dụng làm chất đốt hoặc ủ làm phân bón cho cây trồng.
Điểm khác biệt của kỹ thuật nuôi trồng nấm linh chi được anh áp dụng so với trước đây đó là: Trước đây nuôi trồng nấm linh chi thường sử dụng nguyên liệu như mùn cưa cao su, bã mía nhưng hiện nay nguồn nguyên liệu này ngày càng ít, hàm lượng dinh dưỡng protein trong mùn cưa, bã mía hầu như không có nếu sử dụng nguyên liệu này thì cánh nấm linh chi không được to, mẫu mã không đẹp và dược tính thấp. Để thay thế cho nguồn nguyên liệu này, anh đã bổ sung thêm nguồn nguyên liệu là vỏ đậu nành bởi hiện nay nguồn vỏ đậu nành trên thị trường rất nhiều, giá thành rẻ vì thế sau nhiều lần đã nghiên cứu thử nghiệm đổi công thức phối trộn thêm vỏ đậu nành vào nguyên vật liệu, tăng thời gian hấp phôi nấm giúp cánh nấm đẹp hơn to hơn và giảm chi phí sản xuất. Việc bổ sung vỏ đậu nành trong quá trình sản xuất mang lại hiệu quả cao giúp người nuôi trồng giảm áp lực và không còn phu thuộc quá nhiều về nguyên liệu đầu vào giúp tăng sản lượng và năng suất nấm vì trong thành phần vỏ đậu nành có 44% protein thô thông thường mà trong mùn cưa gỗ cao su không có, nó thúc đẩy quá trình hình thành quả thể nấm và tăng năng suất nuôi trồng nấm tăng dinh dưỡng. Theo hạch toán của anh, chi phí và khối lượng nấm tạo ra trên nguyên liệu mùn cao su 60% vỏ đậu nành 30% đơn vị tính 1000 phôi nấm thì thu được lợi nhuận gấp 1,6 – 1,8 lần so với chi phí chi phí và khối lượng nấm tạo ra trên nguyên liệu mùn cao su 100% đơn vị tính 1000 phôi nấm.
Sản phẩm nấm linh chi Hoàng Hậu được đánh giá có chất lượng cao, dược tính tương đương nấm mọc trong tự nhiên. Ng Mỗi nămtrang trại của anh nuôi cấy được trên 180.000 bịch nấm, sản lượng đạt trên 500 kg nấm Linh chi khô/ năm, với giá bán từ 600 – 800 nghìn đồng/1kg khô. Ngoài ra mỗi năm trang trại của anh còn sản xuất 80.000 – 100.000 bịch nấm sò trắng và nấm sò xám cho sản lượng đạt 30.000 – 40.000 kg có giá 25.000 – 45.000 đồng/kg để đa dạng sản phẩm cung cấp cho thị trường cũng như luân chuyển sản phẩm để tránh nhiễm chéo bệnh trong quá trình nuôi. Thu nhập của trang đạt 400 – 500 triệu đồng/năm, tạo việc làm thường xuyên cho khoảng 8 – 10 lao động, mức thu nhập từ 5 – 6 triệu đồng/người/tháng. Sản phẩm của anh được thị trường đánh giá cao, khách hàng ưa chuộng bởi sản phẩm nấm của anh luôn đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, chất lượng cao, ổn định, mẫu mã đẹp và được xuất bán trên thị trường toàn quốc thông qua các đại lý, nhà phân phối hoặc một số nhà thuốc, cửa hàng an toàn thực phẩm tại Hà Nội, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh.Sản phẩm còn được một số Công ty dược phẩm tại Quảng Trị, Quảng Ngãi thu mua để điều chế thuốc… đủ thấy được chất lượng, uy tín của sản phẩm. Đồng thời sản phẩm được quảng bá trên các website và sàn thương mại điện tử để tiếp cận được lượng khách hàng dễ dàng và nhanh chóng hơn.
Mô hình trồng nấm ứng dụng của anh Đào Văn Hoàng là mô hình cho hiệu quả kinh tế cao, mở ra một hướng đi mới về lĩnh vực trồng dược liệu, áp dụng công nghệ cao trong sản xuất nấm linh chi đảm bảo vệ sinh ATTP để xây dựng thương hiệu sản phẩm OCOP xã Quảng Lộc nói riêng, huyện Quảng Xương nói chung. Nâng cao hiệu quả trên một đơn vị diện tích sản xuất , góp phần chuyển đổi cơ cấu phát triển nông nghiệp, tạo được nhiều việc làm trên địa bàn.
Phương Thúy