Hiệu quả mô hình nuôi tôm theo hướng công nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại xã Hoằng Ngọc, huyện Hoằng Hóa

Hiệu quả mô hình nuôi tôm theo hướng công nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại xã Hoằng Ngọc, huyện Hoằng Hóa

Trong những năm gần đây, mô hình nuôi tôm thâm canh trên địa bàn huyện Hoằng Hóa nói chung, xã Hoằng Ngọc nói riêng ngày càng phát triển và chiếm ưu thế hơn so với mô hình nuôi tôm truyền thống nhờ những giá trị và hiệu quả kinh tế góp phần nâng cao thu nhập cho người dân, phát triển nghề nuôi trồng thủy sản theo hướng bền vững và  bảo vệ môi trường.

(Khu bể nuôi tôm ứng dụng công nghệ cao của anh Chu Đình Giáp, xã Hoằng Ngọc, huyện Hoằng Hóa)

Hoằng Ngọc là xã ven biển của huyện Hoằng Hóa, là nơi tiếp giáp giữa Dòng sông Cung nối liền sông Lạch Trường và sông Mã, do nối liền hai vùng nước gần cửa lạch nên dòng sông mang theo nguồn nước lợ sâu vào đất liền, là điều kiện tốt để phát triển NTTS. Tận dụng lợi thế đó các hộ trong xã đã phát triển các mô hình nuôi trồng thủy sản khá đa dạng. Nổi bật trong đó phải kể đến mô hình nuôi tôm thâm canh ứng dụng CNC của anh Chu Đình Giáp (thôn 3, xã Hoằng Ngọc, huyện Hoằng Hóa). Theo chương trình chuyển đổi ruộng đất của xã, anh đã thuê lại khu đầm lầy bỏ hoang, canh tác nông nghiệp kém hiệu quả để nuôi tôm theo hướng công nghệ cao. Trang trại của anh được đầu tư hàng tỷ đồng xây dựng hệ thống khu ao nuôi hiện đại với 16 bể nuôi, 2 bể lắng, lọc nước diện tích mỗi bể từ 500 – 700m2 lắp đặt các hệ thống trang thiết bị hiện đại cùng với các công trình phụ trợ như nhà điều hành, nhà kho, nhà ở công nhân, đường giao thông… Nhà nuôi tôm được xây dựng kiên cố, có mái che toàn bộ các ao nuôi bằng nhựa PVC trong suốt để lấy ánh sáng cho ao nuôi, hạn chế các tác nhân gây hại từ bên ngoài và tránh những điều kiện bất lợi từ thời tiết, ổn định nhiệt độ trong ao nuôi vào mùa đông, hạn chế mầm bệnh. Trong nhà nuôi lắp đặt hệ thống quạt gió điều hòa không khí và nhiệt độ để đảm bảo nhiệt độ môi trường ổn định giảm thiểu tối đa những bất lợi của thời tiết như mưa bão, mùa đông lạnh giá gây chết tôm. Ao nuôi được thiết kế hình tròn, đáy ao lót bạt chuyên dụng giúp việc kiểm soát và vệ sinh ao nuôi được thực hiện dễ dàng và nhanh chóng, giảm thiểu bùng phát vi khuẩn có hại. Từ đó, giảm chi phí sử dụng hóa chất xử lý môi trường, đảm bảo chất lượng nước ao nuôi cho tôm sinh trưởng và phát triển.

Khu nuôi được quy hoạch thành các khu: khu bể ương giống, khu bể nuôi tôm thương phẩm và khu ao lắng cung cấp nước cho ao nuôi và ao lắng xử lý chất thải được thiết kế hiện đại, nối với các ao nuôi bằng hệ thống máy bơm và đường ống.  Nước để nuôi tôm được bơm vào lần lượt qua hệ thống các bể lọc, sau đó đưa vào ao lắng thô, rồi đưa vào ao lắng tinh để xử lý sau đó được đưa vào ao nuôi. Trong ao sử dụng hệ thống quạt nước, máy thổi cung cấp khí đáy ao tạo dòng chảy trong ao, đảm bảo lượng oxy hòa tan trong nước, trang thiết bị phụ trợ giám sát môi trường nuôi để kiểm soát nhiệt độ, lượng oxy hòa tan, độ pH và các thông số khác để đảm bảo môi trường thích hợp cho sự phát triển của tôm, từ đó giúp duy trì chất lượng nước ổn định và giảm rủi ro bệnh tật. Tất cả các thông số môi trường trong ao nuôi được kiểm soát tự động qua hệ thống cảm biến và được quản lý qua phần mềm máy tính để theo dõi. Đầu vào được nhập tại các Công ty, cơ sở sản xuất uy tín như con giống được nhập từ các trại sản xuất giống ở Quảng Ninh, Nghệ An,… nguồn thức ăn được nhập từ các Công ty sản xuất thức ăn uy tín như Công ty TNHH CJ vina Agri, Công ty TNHH Cargill Việt Nam. Trong quá trình nuôi thức ăn được cung cấp dựa trên nhu cầu dinh dưỡng cụ thể của từng giai đoạn của tôm kết hợp sử dụng chế phẩm sinh học và men vi sinh giúp cải thiện sức khỏe và sức đề kháng của tôm giúp tôm tăng trọng và tăng hiệu suất nuôi trồng. Ngoài ra, anh còn sử dụng  công nghệ biofloc để tạo nguồn thức ăn tự nhiên cho tôm, biofloc giúp các vi sinh vật có lợi hạn chế các vi sinh vật có hại và phân giải các chất hữu cơ làm sạch đáy và môi trường ao nuôi, từ đó tạo ra nguồn đạm tại chỗ.  Nhờ có công nghệ này giúp tiết kiệm được lượng thức ăn 30%, giảm chi phí đầu vào, Biofloc có hàm lượng chất dinh dưỡng vitamin và khoáng chất cao vì vậy trở thành loại thức ăn rất tốt cho tôm. Sau mỗi vụ nuôi, nước từ các ao nuôi được đưa ra hồ lớn để xử lý bằng các chế phẩm sinh học, lắng lọc để tái sử dụng hoặc đưa ra môi trường. Tại ba hồ xử lý nước thải, anh cũng tận dụng nuôi tôm quảng canh để có thêm thu nhập.

Anh cho biết: “Ưu điểm của mô hình nuôi tôm này giúp tăng số vụ nuôi tối đa lên 4 vụ/năm, tăng thêm từ 0,5 đến 1 vụ/năm so với các mô hình nuôi tôm truyền thống, tỷ lệ nuôi thành công đạt hơn 90%, với mật độ nuôi dày đạt từ 200 – 300 con/m2 cao hơn so với thâm canh thông thường có mật độ nuôi từ 80 – 150 con/m2, cho năng suất cao hơn 20 – 30%, tôm nuôi từ 2,5 – 3 tháng là cho thu hoạch, đạt kích cỡ dao động 30 – 40 con/kg. Giúp kiểm soát được nguồn nước và phòng chống được dịch bệnh một cách nhanh chóng, việc nuôi trồng không bị phụ thuộc vào thời tiết, giảm rủi ro về dịch bệnh trong quá trình nuôi, sử dụng nguồn tài nguyên bền vững bởi hệ thống tái sử dụng nước và xử lý chất thải, giúp giảm lượng nước cần sử dụng để nuôi tôm và bảo vệ nguồn nước và môi trường xung quanh. Từ đó, góp phần nâng cao năng suất, tăng chất lượng sản phẩm  hiệu quả kinh tế so với phương pháp nuôi truyền thống trước đây, sản lượng tôm trung bình đạt được khoảng 16 – 18 tấn/vụ; doanh thu mỗi năm đạt trên  tỷ đồng, sau khi trừ các chi phí đầu vào như thức ăn, công lao động,…  cho lợi nhuận đạt 3 – 4 tỷ đồng/năm. Sản phẩm đang được tiêu thụ ổn định qua thương lái được tiêu thụ trong và ngoài tỉnh như: Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh… với mức giá ổn định từ 200.000 – 250.000 đồng/kg. Mô hình của anh cũng tạo công ăn việc làm cho 5 – 7 lao động địa phương với mức thu nhập từ 6 – 8 triệu đồng/người/ tháng. Với những kết quả đạt được trang trại nuôi trồng thủy sản hiện đại của anh là địa chỉ học tập, tham quan tiêu biểu của các đoàn khách trong và ngoài tỉnh. Trang trại được xây dựng kiên cố, hệ thống đường giao thông  được bê tông hóa. Xung quanh trang trại và dọc các tuyến đường được trồng cây dừa cùng hệ thống cây ăn quả đa dạng đã tạo nên một khu sản xuất xanh – sạch – đẹp, quy mô hiện đại đồng bộ. Định hướng những năm tới anh sẽ tiếp tục mở rộng những diện tích còn lại phát triển thêm các ô nuôi để nâng cao năng suất và sản xuất theo tiêu chuẩn Vietgap để đáp ứng yêu cầu thị trường hướng tới xuất khẩu.

Mô hình nuôi tôm thâm canh ứng dụng công nghệ cao của anh Chu Đình Giáp được đánh giá hiệu quả, làm cơ sở để người dân nhân rộng trong nuôi trồng thủy sản, từng bước đưa lĩnh vực thủy sản trở thành ngành mũi nhọn ngành nông nghiệp của xã Hoằng Ngọc nói riêng, huyện Hoằng Hóa nói chung góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, thay đổi tập quán sản xuất  của người dân hướng tới sản xuất quy mô hiện đại và bền vững.

Phương Thúy