Liên kết sản xuất nông sản tại Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp Quý Lộc, huyện Yên Định

Liên kết sản xuất nông sản tại Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp Quý Lộc, huyện Yên Định

Sản xuất nông nghiệp được xác định là ngành quan trọng hàng đầu trong phát triển kinh tế của xã Quý Lộc, huyện Yên Định. Do vậy, việc đẩy mạnh liên kết sản xuất gắn với bao tiêu sản phẩm nông sản được xem là giải pháp hàng đầu góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất và hướng đến sản xuất hàng hóa quy mô lớn, không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh cho nền nông nghiệp của xã Quý Lộc nói riêng, huyện yên Định nói chung.

(Cánh đồng liên kết sản xuất lúa thương phẩm tại xã Quý Lộc)

 Quý Lộc là xã có diện tích đất nông nghiệp rộng lớn, điều kiện tự nhiên, thổ nhưỡng thuận lợi cho phát triển nông nghiệp với các mô hình sản xuất điển hình như lúa, cây rau màu như ớt, ngô ngọt, ngô dầy, mía đường… Hiện HTX DVNN Quý Lộc quản lý 800 ha diện tích đất nông nghiệp với 230 hộ xã viên, gần 1000 lao động thành viên, HTX đã thực hiện và quản lý các chuỗi liên kết sản xuất có hiệu quả, các sản phẩm được các công ty và thương lái bao tiêu đầu ra ổn định như: chuỗi liên kết sản xuất lúa thương phẩm 150 ha, ngô ngọt, ngô làm thức ăn chăn nuôi 263 ha, ớt xuất khẩu 50 – 60ha, mía đường 150ha,… với các công ty TNHH An Thành Phong, Công ty TNHH Nông nghiệp Tân Tiến (TP Thanh Hóa), Công ty TNHH Tâm Phú Hưng(Thiệu Hóa), Công ty Long Phương Nam (Hậu Lộc), Công ty mía đường Lam Sơn, Nhà máy mía đường Việt Đài,…. Việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật thâm canh cho năng suất cây lúa đạt 7 tấn/ha, cây ngô đạt 12 – 13 tấn/ha, cây ớt 8 – 10 tấn/ha, cây mía 100 tấn/ha,…

Thực hiện liên kết sản xuất trên cánh đồng mẫu lớn, các hộ dân được HTX phối hợp cùng Trung tâm dịch vụ nông nghiệp huyện và các công ty tập huấn, phổ biến quy trình sản xuất, hướng dẫn áp dụng đồng bộ các tiến bộ khoa học – kỹ thuật, cơ giới hóa chủ động trong sản xuất, canh tác theo hướng an toàn như sử dụng màng phủ nilon hạn chế cỏ dại giữ độ ẩm cho đất, bổ sung dinh dưỡng bằng phân hữu cơ, phòng trừ sâu bệnh hại bằng chế phẩm, men vi sinh, thuốc BVTV sinh học trong quá trình sản xuất giúp bảo vệ sự đa dạng sinh học, tránh tình trạng thoái hóa đất, tiết kiệm được lượng giống, giảm lượng phân bón và thuốc BVTV, an toàn cho sức khỏe người sản xuất và người sử dụng, hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm công lao động, giảm chi phí sản xuất so với truyền thống từ 20 – 30%, năng suất  cao, chất lượng sản phẩm đồng đều, tươi đẹp đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp, sản phẩm sau thu hoạch được thu mua ngay tại ruộng vận chuyển về công ty để sơ chế bảo quản nhằm giảm tối đa tổn thất sau thu hoạch. Việc liên kết sản xuất theo hợp đồng giúp người dân giảm tối đa các rủi ro trong khâu tiêu thụ, mang lại hiệu quả kinh tế cao và ổn định.

(Cây ngô được liên kết sản xuất tại HTX DVNN Quý Lộc)

 Trong quá trình sản xuất, HTX DVNN Quý Lộc là đầu mối trung gian trong việc liên kết giữa người sản xuất và DN bao tiêu. Để hình thành cánh đồng mẫu lớn thuận tiện cho sản xuất và cơ giới hóa, HTX vận động, kêu gọi các hộ dân dồn điền đổi thửa, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, quy hoạch vùng cây trồng chuyên canh đưa các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao, thị trường đầu ra ổn định vào sản xuất. Thực hiện công tác chỉ đạo, điều hành sản xuất, luân canh và chuyển đổi cơ cấu các cây trồng ngắn ngày có năng suất, chất lượng, giá trị cao như ớt, ngô ngọt, rau màu,… để luân chuyển đất, tăng diện tích sản xuất trong vụ và tránh nhiễm chéo bệnh. Trước mỗi vụ sản xuất HTX đều chủ động làm việc với các DN bao tiêu để nắm bắt nhu cầu thị trường. Trên cơ sở đó HTX sẽ họp triển khai với các hộ dân thống nhất quy mô, diện tích, thời điểm xuống giống các loại cây trồng phù hợp với mùa vụ và nhu cầu thu mua của công ty. Thực hiện tu sửa nâng cấp, xây dựng hệ thống kênh mương, đường nội đồng bảo đảm các điều kiện như tưới tiêu, đi lại và sản xuất của người dân được thuận tiện; xây dựng lịch thời vụ, công tác dự thính dự báo tình hình sâu bệnh hại trên cây trồng; điều tiết dịch vụ cơ giới hóa (máy cày, bừa, máy cắt, máy bay phun thuốc không người lái,… ); cung ứng vật tư nông nghiệp đầu vào như giống, phân bón, thuốc BVTV, tổ chức sản xuất hướng dẫn người dân tuân thủ quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn an toàn, sử dụng các loại phân bón hữu cơ, thuốc BVTV sinh học mà công ty cung cấp hoặc khuyến cáo nằm trong danh mục cho phép của ngành nông nghiệp. Nhờ ký kết hợp đồng với các doanh nghiệp, cơ sở thu mua nên hoạt động của HTX được đánh giá hiệu quả, tạo việc làm và thu nhập ổn định cho các thành viên lao động HTX với mức lương 3 – 5 triệu đồng/người/tháng. Ước doanh thu bình quân hàng năm từ các hoạt động của HTX đạt trên 3 tỷ đồng/năm.

Các chuỗi liên kết đều được đảm bảo thông qua các hợp đồng, biên bản được ký kết giữa hai bên gồm đại diện HTX và đại diện phía DN nhằm đảm bảo sự ràng buộc, tính pháp lý thông qua các điều khoản được thể hiện rõ trong hợp đồng. Hợp đồng được ký kết theo từng vụ trong năm theo kế hoạch sản xuất của công ty và nhu cầu thị trường. Về phía công ty hỗ trợ toàn bộ hoặc một phần chi phí ban đầu về giống, phân bón (nếu cần) và đầu tư theo hình thức trả chậm, phần còn lại khấu trừ vào sản phẩm khi thu hoạch. Trong quá trình sản xuất, cán bộ công ty và thành viên HTX sẽ đồng hành cùng người dân trong các khâu từ chăm sóc cho đến khi thu hoạch. Cam kết thu mua sản phẩm sau thu hoạch theo hợp đồng ký kết, sản lượng thu mua có thể thay đổi theo tình hình thu hoạch thực tế, nhu cầu của công ty và giá thu mua sẽ điều chỉnh giá linh hoạt theo giá thị trường để cùng chia sẻ rủi ro và lợi ích với người dân. Thanh toán đầy đủ và đúng hạn trong vòng 7 – 15 ngày kể từ khi thu mua. Đảm bảo thời gian và địa điểm, phương tiện vận chuyển thu mua cho người dân nhằm bảo quản hàng hóa nông sản sau thu hoạch. Sản phẩm được thu mua theo hợp đồng ký kết hoặc giá thị trường với mức giá bình quân như: lúa 7.000 – 8.000 đồng/kg, ngô ngọt 5.000 – 7.000 đồng/kg, ớt 30.000 – 35.000 đồng/kg, mía 1.200 đồng/kg,… Việc áp dụng đồng bộ các giải pháp đã giúp năng suất tăng từ 15-20% so với sản xuất truyền thống, chất lượng sản phẩm đồng đều bởi vậy đảm bảo được nguồn nguyên liệu ổn định cho Công ty thu mua. Giá trị sản xuất tăng gấp 1,5 – 2 lần so với khi chưa tham gia chuỗi liên kết bao tiêu sản phẩm, giúp nâng cao thu nhập cho người dân.

Anh Nguyễn Công Thủy – Giám đốc HTX DVNN Quý Lộc cho biết: “Mô hình liên kết theo chuỗi đã từng bước hình thành quan hệ hợp tác sản xuất, mua bán theo đơn đặt hàng của công ty. Tham gia chuỗi liên kết gắn với bao tiêu sản phẩm, nhận thức của cán bộ, người dân đã có sự chuyển biến tích cực về cách thức sản xuất hiện đại đồng bộ, khắc phục dần tình trạng sản xuất tự phát, manh mún nhỏ lẻ chuyển sang sản xuất theo quy mô hàng hóa đáp ứng yêu cầu thị trường. Trong sản xuất người dân được học tập, nâng cao kiến thức, được cung cấp nguồn giống chất lượng cao, mua vật tư nông nghiệp chất lượng đảm bảo với giá cả hợp lý, được nợ cuối vụ, sản phẩm được hỗ trợ bao tiêu. HTX cũng như người dân luôn yên tâm về đầu ra, chỉ cần tập trung trong sản xuất nâng cao kiến thức, trình độ thâm canh sản xuất. Công ty cũng quản lý được toàn bộ quy trình sản xuất từ đầu vào đến đầu ra, từ đó đảm bảo được chất lượng nông sản nhất là những sản phẩm nông sản xuất khẩu, tạo dựng niềm tin với đối tác khách hàng trong và ngoài nước, nâng tầm giá trị nông sản Việt”.

Chuỗi liên kết sản xuất nông nghiệp tại HTX DVNN Quý Lộc là chuỗi liên kết sản xuất tiêu biểu của huyện Yên Định nói riêng, tỉnh Thanh Hóa nói chung. Mở ra một hướng sản xuất chặt chẽ hơn trong sản xuất nông nghiệp, gắn quyền lợi nhà nông và doanh nghiệp một cách hài hòa, bền vững. Hình thành các chuỗi liên kết sản xuất chất lượng cao, nâng cao hiệu quả kinh tế cho người dân, từng bước xây dựng và phát triển thương hiệu nông sản xứ Thanh.

Phương Thúy