Mô hình liên kết sản xuất – tiêu thụ lúa nếp hương đem lại hiệu quả kinh tế cao tại xã Quảng Yên, tỉnh Thanh Hóa.
Trong bối cảnh nền nông nghiệp Việt Nam đang từng bước chuyển mình theo hướng sản xuất hàng hóa quy mô lớn, việc xây dựng và phát triển các mô hình liên kết theo chuỗi giá trị giữa người nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp đóng vai trò then chốt nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, ổn định đầu ra cho sản phẩm. Đặc biệt đối với cây lúa nếp – là một trong những loại cây trồng truyền thống có giá trị kinh tế và văn hóa cao, việc tổ chức sản xuất theo chuỗi liên kết sản xuất – tiêu thụ càng trở nên cấp thiết để đảm bảo lợi ích bền vững cho người nông dân cũng như doanh nghiệp.

Mô hình liên kết sản xuất – tiêu thụ lúa nếp tại xã Quảng Yên.
Tại xã Quảng Yên, tỉnh Thanh Hóa, mô hình liên kết sản xuất – tiêu thụ lúa nếp hương được hình thành và triển khai, góp phần thay đổi tập quán canh tác manh mún, nhỏ lẻ thiếu định hướng sang sản xuất theo kế hoạch và có hợp đồng bao tiêu sản phẩm. Mô hình này không chỉ giúp nâng cao năng suất, chất lượng lúa nếp địa phương mà còn tạo điều kiện thuận lợi trong việc kết nối thị trường, gia tăng thu nhập cho người dân. Với lợi thế là địa phương thuần nông, từ bao đời nay người dân nơi đây đã có bề dày kinh nghiệm trồng lúa nước, UBND xã Quảng Yên đã tập trung chỉ đạo HTX Dịch vụ nông nghiệp Quảng Yên đẩy mạnh tìm kiếm, đấu mối với các doanh nghiệp liên kết sản xuất – tiêu thụ theo chuỗi giá trị nhằm nâng cao giá trị sản xuất cũng như đảm bảo đầu ra cho sản phẩm. Công ty TNHH Lương thực Thanh Tánh (địa chỉ: xã Quảng Yên, tỉnh Thanh Hóa) là một trong những doanh nghiệp tại địa phương có uy tín trong lĩnh vực liên kết sản xuất – bao tiêu nông sản. Mô hình được triển khai với tổng diện tích liên kết hơn 80 ha, với 120 hộ dân tham gia, tập trung chủ yếu ở các thôn: Yên Vực, Trung Đào và Yên Cảnh. Loại giống lúa được chọn là lúa nếp hương phù hợp với khí hậu, thổ nhưỡng của địa phương, có khả năng chống chọi tốt với các loại sâu bệnh hại. Mặt khác, đây là loại lúa phổ biến trên thị trường được người tiêu dùng yêu thích lựa chọn vì chất lượng gạo thơm ngon, mềm dẻo có thể sử dụng làm nguyên liệu cho nhiều loại thực phẩm và quan trọng hơn hết là giá thành cạnh tranh, phù hợp với nhiều khách hàng.

Sản phẩm lúa nếp hương cho năng suất, chất lượng cao tại xã Quảng Yên.
Mô hình liên kết được thông qua các hợp đồng được ký kết giữa công ty Thanh Tánh và HTX DVNN Quảng Yên. HTX DVNN Quảng Yên sẽ là đơn vị đại diện cho các hộ dân trồng lúa tại xã Quảng Yên ký kết hợp đồng sản xuất – tiêu thụ với công ty. Về phía công ty sẽ chịu trách nhiệm cung ứng toàn bộ vật tư như: giống lúa, phân bón, thuốc BVTV,…cho các hộ dân tham gia mô hình và được khấu trừ vào tiền thanh toán sau khi thu hoạch sản phẩm. Sản phẩm thu mua được công ty chuyển thẳng ra nhà máy để sấy khô, làm sạch và đóng bao bì trước khi đưa sản phẩm ra ngoài thị trường tiêu thụ. Ngoài ra, công ty sẽ tổ chức các lớp tập huấn trồng và chăm sóc lúa nếp theo hướng hữu cơ thân thiện với môi trường, sử dụng thuốc BVTV sinh học, phân bón hữu cơ. Toàn bộ sản phẩm làm ra khi đạt chất lượng theo yêu cầu được công ty thu mua theo giá thị trường nhưng không thấp hơn 8.000 đồng/kg lúa nếp tươi. Công ty cũng cam kết trong hợp đồng thanh toán ngay sau khi thu hoạch với những sản phẩm đạt tiêu chuẩn. Việc cam kết này giúp người dân yên tâm sản xuất không lo đầu ra cho sản phẩm giống như trước đây khi còn sản xuất theo kiểu truyền thống.
Trong chuỗi liên kết, HTX DVNN Quảng Yên là đơn vị trung gian, cầu nối giữa công ty và các hộ liên kết. HTX có trách nhiệm rà soát, lên danh sách các thành viên đạt tiêu chuẩn đáp ứng các tiêu chí mà công ty đề ra. Các hộ dân được lựa chọn tham gia mô hình phải có diện tích canh tác liền kề tối thiểu từ 0,2 ha trở lên để có thể cơ giới hoá đồng bộ trong sản xuất từ khâu làm đất đến khâu thu hoạch. HTX sẽ đứng ra chỉ đạo và lập kế hoạch sản xuất triển khai cho các hộ dân tham gia mô hình; xây dựng lịch thời vụ sản xuất, công tác dự báo tình hình sâu bệnh hại trên cây trồng; điều tiết các dịch vụ cơ giới hóa sản xuất như: máy cày, bừa, máy gặt, máy bay phun thuốc không người lái,…. HTX cũng là đơn vị tổ chức sản xuất, hướng dẫn các hộ dân tuân thủ quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn an toàn, sử dụng các loại phân bón hữu cơ, thuốc BVTV sinh học mà công ty cấp phát. Đồng thời, xuyên suốt trong quá trình triển khai mô hình, HTX là đơn vị chịu trách nhiệm trước công ty về năng suất, chất lượng lúa. Chính vì vậy trong suốt quá trình triển khai mô hình, HTX phải thường xuyên kiểm tra, giám sát và hướng dẫn các hộ dân canh tác theo đúng quy trình, kỹ thuật mà công ty đưa ra để đạt năng suất, chất lượng cao.
Về phía các hộ dân tham gia liên kết phải tuân thủ tuyệt đối các điều khoản đã được ký kết trong hợp đồng. Tham gia đầy đủ các lớp tập huấn do công ty và HTX tổ chức để nâng cao trình độ canh tác đảm bảo chất lượng, năng suất sản phẩm đáp ứng các tiêu chuẩn của công ty, đảm bảo không còn tồn dư lượng thuốc BVTV, phân bón, kim loại nặng vượt quá ngưỡng cho phép về an toàn thực phẩm. Các hộ dân cam kết bán toàn bộ sản phẩm cho công ty, tạo niềm tin liên kết lâu dài bền vững giữa người dân và doanh nghiệp. Việc triển khai đồng bộ, hiệu quả các giải pháp trong chuỗi liên kết đã giúp năng suất, sản lượng lúa nếp vụ Hè Thu năm 2024 đạt vượt mức kế hoạch. Điểm lợi thế cho người nông dân khi tham gia liên kết là được công ty thu mua lúa tươi tận ruộng. Tất cả các khâu từ làm đất, gieo mạ đến khi thu hoạch đều được công ty sử dụng máy móc cơ giới hóa nông nghiệp nên người nông dân cũng đỡ vất vả hơn trước và quan trọng nhất là giảm được nhiều chi phí công lao động, qua đó giúp gia tăng được thu nhập so với trước đây khi chưa liên kết.
Hộ gia đình bà Nguyễn Thị Hiên ở thôn Yên Vực, xã Quảng Yên là hộ gia đình có diện tích liên kết nhiều nhất với công ty với hơn 2,5 ha diện tích lúa nếp. Với 2,5 ha lúa có năng suất bình quân đạt từ 10 tấn/ha/vụ cho sản lượng đạt từ 50 tấn/năm/2 vụ. Với giá bán cho công ty từ 8.000 đồng/kg cho doanh thu từ 400 triệu đồng/năm, trừ các chi phí như: nhân công, giống, phân bón,… cho lợi nhuận đạt xấp xỉ 100 triệu đồng/năm. Như vậy, với 120 hộ dân tham gia mô hình cho thu nhập bình quân đạt 26,67 triệu đồng/hộ/năm. Theo tính toán, nếu so với cùng một đơn vị diện tích như trước đây khi chưa liên kết thì lợi nhuận cao hơn từ 1,3 – 1,5 lần và quan trọng nhất là người nông dân không còn phải lo lắng về đầu ra cho sản phẩm. Câu chuyện “được mùa mất giá” giờ đây không còn là nỗi trăn trở của người nông dân khi thị trường lúa gạo biến động.
Mô hình liên kết sản xuất – tiêu thụ lúa nếp tại xã Quảng Yên đã và đang thể hiện rõ vai trò trong việc nâng cao hiệu quả kinh tế, đảm bảo đầu ra ổn định cho người nông dân, đồng thời góp phần thúc đẩy phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững. Những kết quả bước đầu của mô hình là minh chứng cho tính đúng đắn trong chủ trương tổ chức lại sản xuất nông nghiệp gắn với thị trường. Việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách, nâng cao năng lực cho nông dân, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường tiêu thụ sẽ là những yếu tố then chốt để mô hình liên kết sản xuất – tiêu thụ lúa nếp tại xã Quảng Yên phát triển bền vững và có thể nhân rộng ra các địa phương khác trong thời gian tới.
Mạnh Tùng