Mô hình ứng dụng khoa học công nghệ nuôi cua lột tại xã Hoằng Châu, tỉnh Thanh Hóa
Xã Hoằng Châu là một trong những xã vùng triều của tỉnh Thanh Hóa với địa hình có sự tiếp giáp của hai cửa sông Cung và sông Lạch Trường vì vậy có điều kiện tự nhiên lợi thế để phát triển nghề nuôi trồng thủy sản (NTTS). Các mô hình NTTS tại đây đã và đang mang lại hiệu quả kinh tế cao ổn định cho người dân, một trong những mô hình NTTS có hiệu quả kinh tế và có tác động tích cực đến môi trường đó là mô hình nuôi cua lột trong nhà của ông Lê Văn Hoành tại thôn 3, xã Hoằng Châu, tỉnh Thanh Hóa.

(Mô hình nuôi cua lột tại xã Hoằng Châu)
Cua lột là một trong những thực phẩm có giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao do cua lột đã loại bỏ phần vỏ cứng bên ngoài nên thịt cua lột có hàm lượng đạm, khoáng, lipid đều cao hơn cua thịt. Cua lột còn giàu các loại vitamin khoáng chất như vitamin B2, B5, sắt, magie, canxi, kẽm… vì vậy được người tiêu dùng ưa chuộng và đây cũng là một trong những sản phẩm mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người nuôi. Mô hình nuôi cua lột trong nhà của ông Lê Văn Hoành là một mô hình kinh tế mới so với các mô hình nuôi cua thịt truyền thống của người dân địa phương. Nhận thấy lợi thế từ vùng nuôi trồng thủy sản nước lợ của xã và các vùng triều lân cận đồng thời nhu cầu của thị trường về sản phẩm cua lột cao ông đã đầu tư mô hình nuôi cua lột trong hộp nhựa theo hình thức nuôi tuần hoàn. Để triển khai thực hiện mô hình ông đã học hỏi kinh nghiệm tại một số tỉnh như Hải Phòng, Quảng Ninh và các tỉnh phía Nam, đây là những địa phương có truyền thống trong nghề nuôi trồng thủy sản tương đồng với điều kiện ở địa phương. Cùng với đó ông cũng nhận được sự hỗ trợ và tư vấn về mặt kỹ thuật sản xuất từ Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Thanh Hóa vì vậy ông đã thực hiện mô hình trên diện tích khoảng 2.000m2. Để nuôi được cua lột phải đầu tư xây dựng nhà kiên cố có mái che để tránh các bất lợi từ thời tiết, đảm bảo ổn định môi trường sống của cua. Để tiết kiệm diện tích xây dựng và dễ quản lý, khu nuôi thiết kế thành nhiều bể liên tiếp có diện tích từ 500 – 800m2/ô, độ sâu 1m/bể. Bể được xây dựng kiên cố, đáy bể được thiết kế có độ dốc để dễ dàng thoát nước và vệ sinh. Trong bể được trang bị hệ thống sục khí hoặc quạt nước để đảm bảo đủ oxy hòa tan trong nước. Bên cạnh đó còn có hệ thống các bể lọc nước sinh học tuần hoàn gồm bể lắng, bể xử lý nước, bể lọc nổi, bể lọc chìm. Tận dụng nguồn nước mặn tại đầm ngoài tự nhiên, nước sẽ được cấp vào bể lắng để lắng nước sạch trước khi được đưa vào các bể nuôi. Khi đưa nước vào bể nuôi cua, thức ăn thừa và chất cặn bẩn thải ra và đi qua hệ thống và cấp sang bể xử lý lọc thô, sau đó được chuyển sang bể xử lý sinh học. Trong bể sẽ có các hạt nhựa vi sinh, đây là hạt lọc động là môi trường lý tưởng cho các vi sinh vật có lợi bám vào có vai trò lọc thức ăn thừa và chất thải giúp môi trường sống của cua được sạch hơn. Đồng thời tại đây sẽ sử dụng thiết bị sục và kiểm soát oxy để bổ sung oxy cho các vi sinh vật có lợi trong nước. Cuối cùng nước qua xử lý sẽ được đưa vào bể lắng và tái sử dụng. Hệ thống vận hành hoàn toàn tự động, đồng thời có khả năng tách chất thải tự động khỏi nước nuôi giúp loại bỏ công đoạn xả thải, tiết kiệm tài nguyên nước và bảo vệ môi trường. Hệ thống có thể tuần hoàn nước 100% và nước chỉ hao hụt do quá trình bốc hơi.

(Sản phẩm cua lột SH79)
Theo ông để có cua lột thương phẩm tốt thì việc lựa chọn con giống phải đảm bảo chất lượng. Do đó, cua giống hoặc chọn mua từ các đầm nuôi tại địa phương hoặc được ông tự ương nuôi tại ao ngoài tự nhiên giúp ông vừa kiểm soát được nguồn giống vừa tiết kiệm chi phí đầu vào. Cua giống được chọn lựa kỹ trước khi đưa vào nuôi phải là cua có trọng lượng từ 80 – 100g, chiều rộng mai từ 65-75 mm, bảo đảm khỏe mạnh, chắc thịt, đạt chất lượng. Sau khi được tuyển chọn, cua được khử khuẩn và được cho vào các lồng nhựa riêng để nuôi thuần dưỡng, thích nghi làm quen với điều kiện nuôi nhốt, thải loại tất cả chất thải ra khỏi cơ thể, mật độ nuôi 20 con/m2, hộp nuôi cua có kích thước: 15 cm x 20 cm x 35 cm, bằng nhựa PP có độ chắc chắn chịu được va đập, đây là loại nhựa an toàn, không chất độc hại, thân thiện với môi trường. Thức ăn chủ yếu là hải sản tươi như: cá trích, ngao, vẹm, ốc cắt nhỏ… Quá trình nuôi cua trong hộp nhựa trải qua 3 giai đoạn, tính từ lúc đưa cua giống vào hộp nuôi đến khi thu hoạch khoảng 15 – 20 ngày nhân viên kỹ thuật phải thường xuyên kiểm tra, theo dõi tiến trình cua lột trong từng hộp nhựa để canh thời điểm thu hoạch. Giai đoạn 1: giai đoạn nuôi thích nghi từ 7 – 10 ngày để cua tập làm quen với môi trường mới, lượng thức ăn từ 1 đến 2g/con/ngày. Kết thúc giai đoạn nuôi thích nghi, cua được xử lý kỹ thuật để kích thích lột vỏ đồng loạt bằng phương pháp cắt mắt hoặc loại bỏ phần phụ, thời gian thích hợp để xử lý kỹ thuật thường vào buôi sáng và kết thúc trước 15 giờ trong ngày. Giai đoạn 2: thời gian từ 10 – 15 ngày, giai đoạn này thường cua ăn rất nhiều, lượng ăn từ 3-6 g/con/ngày. Đây là giai đoạn được nuôi tích cực, ngoài thức ăn, các yếu tố môi trường cần giữ ổn định, cho ăn thức ăn đầy đủ và theo nhu cầu tiêu thụ của mỗi cá thể. Giai đoạn 3 sẽ giảm lượng thức ăn cho cua ăn, khi đó cua nuôi bắt đầu chuẩn bị lột vỏ có thể thu hoạch với trọng lượng 300 – 400g. Dấu hiệu để biết cua chuẩn bị lột vỏ là cua sẽ bỏ ăn từ 1-2 ngày, ranh giới giữa phần giáp đầu ngực và phần thân hình thành khe nứt, sự lột vỏ diễn ra sau đó khoảng 2-8 giờ. Sau khi cua lột được 1-2 giờ, thì tiến hành thu hoạch và đưa cua lột ra khỏi nước mặn. Tiếp đó, ngâm cua lột vào nước ngọt khoảng 1-2 giờ để cua hút nước ngọt, cơ thể căng tròn đồng thời giảm độ mặn trong thịt cua. Sau đó làm sạch, đưa vào đóng gói, hút chân không có bao bì, nhãn mác rõ ràng và được bảo quản trong kho đông lạnh của công ty. Cua được cấp đông sẽ bảo quản được chất lượng sản phẩm lâu hơn và thuận tiện trong việc vận chuyển đi xa.
Mô hình nuôi cua lột áp dụng hệ thống tuần hoàn cho năng suất cao hơn so với mô hình nuôi truyền thống bởi những ưu điểm: có thể xây dựng lắp đặt ngay tại nhà và không tốn diện tích như nuôi tự nhiên, tận dụng được lợi thế từ nguồn nước có độ mặn cao ngoài tự nhiên ,việc sử dụng hệ thống lọc tự làm sạch và tái sử dụng nguồn nước giúp tiết kiệm được lượng nước đầu vào, quản lý được chất lượng nguồn nước, điều kiện sinh trưởng, giảm tối đa tỷ lệ thay nước, ổn định chất lượng nước bể nuôi, kiểm soát được các điều kiện nuôi như nhiệt độ, lưu lượng nước và chất lượng nước tốt hơn giúp quản lý được các bệnh tật phát sinh trong quá trình nuôi giúp giảm nguy cơ hao hụt do bệnh tật, làm tăng sản lượng, cải thiện và làm gia tăng tốc độ tăng trưởng, cua khỏe mạnh, chất lượng thịt cũng ngon hơn. Qua thực tế cho thấy, với phương pháp nuôi này tỷ lệ sống đạt 68-70% cao hơn mô hình nuôi tự nhiên có thể gia tăng mật độ nuôi gấp 3 – 5 lần, năng suất, giá trị cao gấp 2,5 lần so với mô hình nuôi truyền thống
Theo tính toán, lợi nhuận từ nuôi cua lột mang lại hiệu quả kinh tế khá cao so với một số mô hình nuôi trồng thủy sản khác bởi với sản phẩm này nguồn cung trên thị trường chưa được nhiều. Do đó, tiềm năng phát triển mô hình nuôi cua lột trong hộp nhựa còn rất lớn và với hình thức nuôi này có thể nuôi quanh năm mà ít phụ thuộc vào thời tiết. Trung bình mỗi năm, trang trại xuất bán khoảng 1- 1,2 tấn cua lột với giá bán dao động khoảng 800.000 – 1000.000 đồng/kg, giá cao gấp 2-3 lần so với cua thịt. Hàng năm doanh thu đạt 1 – 1,2tỷ đồng, sau khi trừ chi phí đầu tư cho lợi nhuận đạt 400 – 500 triệu đồng/năm mô hình cho lợi nhuận đạt 40 – 50% khá cao và ổn định. Mô hình cũng tạo công ăn việc làm cho 2 – 3 lao động địa phương với mức thu nhập bình quân đạt 5 – 7 triệu đồng/người/tháng. Sản phẩm cũng được công nhận sản phẩm OCOP 3 sao Thanh Hóa năm 2023 càng khẳng định được thương hiệu, chất lượng và tăng giá trị cho sản phẩm. Sản phẩm được khách hàng đánh giá cao bởi chất lượng đồng đều, thịt thơm ngon. Để sản xuất bền vững, ổn định đầu ra anh đã tìm kiếm thị trường, liên kết với các đầu mối lớn để tiêu thụ sản phẩm tại các cửa hàng an toàn thực phẩm, nhà hàng, khu du lịch trong và ngoài tỉnh như Hà Nội, Quảng Ninh, Ninh Bình,…
Mô hình nuôi cua trong hộp nhựa và ứng dụng hệ thống tuần hoàn tái sử dụng nước góp phần xử lý được nguồn nước ô nhiễm và kiểm soát quá trình xả thải nhằm tạo ra các sản phẩm thủy sản tươi sống, đảm bảo an toàn sinh học và không gây ô nhiễm môi trường, nâng cao năng suất và giá trị sản phẩm cho người dân. Góp phần hình thành và phát triển công nghệ nuôi tạo ra sản phẩm sạch, chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ.
Phương Thúy