Mô hình ứng dụng công nghệ vào sản xuất nông nghiệp tại HTX dịch vụ cơ giới hóa nông nghiệp Đông Tiến

Những năm gần đây, Thanh Hóa đã và đang đẩy mạnh phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, coi đây là hướng đi trọng tâm để nâng cao năng suất, giá trị sản phẩm và thu nhập cho người dân. Không chỉ dừng lại ở chủ trương, mục tiêu, việc ứng dụng công nghệ cao đã trở thành hành động cụ thể của ngành nông nghiệp tỉnh Thanh Hóa thông qua các mô hình sản xuất nông nghiệp hiện đại, quy mô lớn.

Hợp tác xã dịch vụ cơ giới hóa nông nghiệp Đông Tiến thuộc phường Đông Tiến, tỉnh Thanh Hóa được thành lập từ năm 2012 với 7 thành viên có số vốn điều lệ ban đầu là 1,2 tỷ đồng hoạt động chính trong lĩnh vực sản xuất và tiêu thụ sản phẩm rau, củ, quả và hoa. Đến nay, đã thu hút được 21 thành viên, tổng vốn điều lệ tăng lên 5 tỷ đồng với cơ cấu tổ chức Hợp tác xã theo mô hình tổ chức quản trị đầy đủ trong đó do ông Nguyễn Xuân Thiên là Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc. Đây là một trong những hợp tác xã tiêu biểu trên địa bàn tỉnh về ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp và được Trung ương Hội Nông dân Việt Nam tôn vinh là một trong 63 hợp tác xã tiêu biểu toàn quốc năm 2024.

Chia sẻ về mô hình làm nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, ông Nguyễn Xuân Thiên, cho biết: “Sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tuy đầu tư ban đầu lớn song có nhiều ưu điểm vượt trội so với truyền thống nhờ tối ưu hóa năng suất, chất lượng sản phẩm, giảm thiểu sự tác động của thời tiết khí hậu và các yếu tố bất lợi đến sự sinh trưởng phát triển của cây trồng, hạn chế việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật vào quá trình chăm sóc. Thông qua hệ thống nhà màng và các thiết bị tự động hóa, thiết bị cảm biến nhiệt độ, ánh sáng và độ ẩm sẽ giúp quản lý, điều chỉnh môi trường sống của cây trồng một cách tối ưu, đảm bảo việc cung cấp nước và dinh dưỡng cho cây trồng một cách đầy đủ, kịp thời. Từ đó, tạo ra các sản phẩm đảm bảo an toàn, chất lượng, bảo vệ sức khỏe người trồng cũng như người tiêu dùng và thân thiện với môi trường”. Vì vậy, với diện tích hơn 3,2 ha hợp tác xã đã đầu tư xây dựng 20.000 m2 nhà lưới và lắp đặt hệ thống tưới nhỏ giọt Israel để trồng luân canh dưa kim hoàng hậu, dưa chuột baby. Theo ông Thiên: “Việc trồng trong nhà màng có nhiều ưu điểm so với phương thức canh tác truyền thống. Môi trường nhà màng giúp hạn chế tác động của thời tiết, ngăn được côn trùng gây bệnh nên hạn chế tối đa việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, đồng thời tạo điều kiện để kiểm soát tốt quá trình sinh trưởng của cây, cùng với hệ thống tưới nước nhỏ giọt theo công nghệ Israel, sẽ cung cấp nước và dinh dưỡng chính xác đến tận gốc rễ, giúp tiết kiệm tối đa lượng nước và phân bón cho cây trồng, giảm chi phí nhân công, tăng độ đồng đều cho nông sản. Nhờ đó, phương thức này không chỉ đảm bảo năng suất ổn định mà còn mở ra cơ hội canh tác nghịch mùa, mang lại giá trị kinh tế cao và bền vững hơn so với phương thức truyền thống”.

Với định hướng làm nông nghiệp bài bản ngay từ khi bắt đầu, toàn bộ quy trình kỹ thuật trồng và chăm sóc dưa Kim hoàng hậu, dưa chuột baby được hợp tác xã ký kết nhận chuyển giao từ Viện cây lương thực và cây thực phẩm, nguồn giống được hợp tác xã mua từ Công ty TNHH East-West Seed (Hai Mũi Tên Đỏ). Toàn bộ quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP từ khâu làm đất, phối trộn nguyên liệu để trồng cây; việc bón phân, tưới tự động, theo dõi sinh trưởng, điều chỉnh ánh sáng, nhiệt độ đều được tuân thủ nghiêm ngặt, không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, phân bón hóa học vào sản xuất. Theo tính toán của hợp tác xã, mỗi năm hợp tác xã trồng luân canh 3 vụ dưa kim hoàng hậu và 1 vụ dưa chuột baby cho sản lượng lần lượt là 120 tấn và 35 tấn với giá bán tại vườn từ 25.000 – 30.000 đồng/kg dưa kim hoàng hậu và 15.000 – 18.000 đồng/kg với dưa chuột baby, trừ chi phí lợi nhuận từ các sản phẩm rau quả đạt từ 600 – 700 triệu đồng/năm. Các sản phẩm được tiêu thụ chủ yếu qua hệ thống cửa hàng thực phẩm sạch trong tỉnh và khu vực Hà Nội, thương lái. Ngoài ra hợp tác xã cũng đã đầu tư 2 cửa hàng trưng bày và bán sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng.

Mô hình trồng dưa kim hoàng hậu ứng dụng công nghệ cao tại HTX dịch vụ cơ giới hóa nông nghiệp Đông Tiến

Không dừng lại ở lĩnh vực rau quả thực phẩm, với mong muốn đa dạng hóa các sản phẩm nông nghiệp, nhằm khai thác tối đa nhu cầu của thị trường tiêu dùng. Nhận diện được lan Hồ Điệp là dòng sản phẩm cao cấp được thị trường tết ưa chuộng mang lại lợi nhuận cao nhưng đòi hỏi khắt khe về kỹ thuật và sự kiểm soát môi trường nghiêm ngặt. Năm 2022, sau quá trình tìm hiểu, ông Nguyễn Xuân Thiên đã mạnh dạn liên hệ với Trung tâm nghiên cứu và phát triển hoa cây cảnh thuộc Viện Nghiên cứu Rau quả (Học viện Nông nghiệp Việt Nam) để tiếp nhận chuyển giao công nghệ sản xuất lan thương phẩm, với nguồn giống, phân bón, giá thể đều được phía Viện nghiên cứu rau quả cung cấp, mô hình này không chỉ giúp tối ưu hóa quy trình canh tác mà còn đảm bảo chất lượng hoa đạt chuẩn, đáp ứng những yêu cầu khắt khe của thị trường cây cảnh hiện nay. Để hiện thực hóa mô hình, Hợp tác xã đã đầu tư xây dựng 2.000 m2  nhà màng. Trong đó, 1.000 m2 hoạt hóa sâu sử dụng 100% máy móc thiết bị tự động như: hệ thống lưới cắt nắng, hệ thống thông gió, hệ thống tản nhiệt, hệ thống quạt đối lưu… nhằm theo dõi quá trình sinh trưởng và điều chỉnh ánh sáng, nhiệt độ phù hợp với từng giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây lan. Ngoài ra, Hợp tác xã đã đầu tư lắp đặt hệ thống pin năng lượng mặt trời nhằm sử dụng nguồn năng lượng tái tạo để cung cấp nguồn điện cho thiết bị máy móc vận hành. Theo ông Thiên với việc lắp đặt sử dụng hệ thống pin năng lượng mặt trời không chỉ giúp hợp tác xã giải quyết bài toán về chi phí điện năng cho hệ thống máy móc hoạt động liên tục (trung bình mỗi tháng Hợp tác xã tiết kiệm được từ 17 – 20 triệu đồng tiền điện) mà còn giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường, hạn chế khí thải phù hợp với định hướng phát triển nông nghiệp xanh.

Quy trình trồng lan thương phẩm: Cây giống sau 6 tháng tuổi sẽ được mua từ Trung tâm nghiên cứu và phát triển hoa cây cảnh và đưa về Hợp tác xã, tại đây cây lan sẽ được thay bầu và bắt đầu nuôi dưỡng với mật độ 40.000 cây/1.000m2 với nhiệt độ và môi trường được kiểm soát nghiêm ngặt. Sau thời gian 10 tháng lan sẽ bắt đầu cho hoa và bán ra thị trường. Mỗi năm Hợp tác xã cho ra thị trường 1 vụ hoa bắt đầu từ 20/11 kéo dài đến tết nguyên đán với sản lượng 32.000 – 34.000 cây hoa thương phẩm, giá bán từ 100.000 – 250.000 đồng/cây. Trong đó, sản lượng hoa cung cấp sỉ cho các cửa hàng hoa, cây cảnh khoảng 20%, đối với sản lượng còn lại, Hợp tác xã triển khai song song hai hình thức: một phần được bán lẻ trực tiếp tại vườn cho khách hàng tới tham quan mua sắm, phần còn lại được Hợp tác xã thuê các nghệ nhân thiết kế, tạo dáng trên các bình gốm, bình lũa nghệ thuật nhằm nâng cao giá trị thẩm mỹ và kinh tế của sản phẩm. Qua đó,  đáp ứng nhu cầu từ bình dân đến cao cấp của khách hàng trong dịp Tết. Trung bình mỗi vụ hoa cho doanh thu khoảng 4 tỷ đồng, trừ chi phí lợi nhuận từ trồng lan khoảng 1 tỷ đồng/vụ.

Nhờ việc đa dạng hóa sản phẩm và ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp, doanh thu từ sản xuất nông nghiệp của Hợp tác xã đạt khoảng 7 tỷ đồng/năm, trừ chi phí lợi nhuận thu về mỗi năm đạt 1,6 – 2 tỷ đồng đã và đang mang lại nguồn thu nhập ổn định cho các thành viên Hợp tác xã với thu nhập bình quân từ 7 – 9 triệu đồng/người/tháng.

Mô hình trồng lan hồ điệp ứng dụng công nghệ cao

Không chỉ mang lại hiệu quả rõ rệt về mặt kinh tế, các mô hình ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp của Hợp tác xã còn mang lại việc làm thường xuyên cho 7 – 8 lao động địa phương với thu nhập từ 6 – 7 triệu đồng/người/tháng, lao động thời vụ từ 20 – 30 người đặc biệt vào vụ thu hoạch, dịp tết với công lao động từ 300.000 đồng – 800.000 đồng/người/ngày. Ngoài ra, Hợp tác xã từ lâu đã trở thành địa chỉ uy tín để chia sẻ và chuyển giao công nghệ cho thanh niên khởi nghiệp, các hợp tác xã muốn thay đổi cách làm nông nghiệp theo hướng ứng dụng công nghệ cao.

Từ thành công của Hợp tác xã dịch vụ cơ giới hóa nông nghiệp Đông Tiến có thể khẳng định, việc ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân. Từ đó, góp phần làm thay đổi diện mạo của các vùng nông nghiệp Việt Nam hiện nay. Từ những cánh đồng sản xuất truyền thống, đang từng bước hình thành các vùng sản xuất tập trung, hiện đại, gắn với thị trường. Đây chính là “sức bật” bền vững để các xã, phường trong tỉnh tiếp tục nâng cao chất lượng xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn tới.

Bùi Thám