Hiệu quả từ mô hình liên kết sản xuất và tiêu thụ ớt tại xã Trường Xuân, huyện Thọ Xuân
Liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông sản đang là xu thế tất yếu và cần thiết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân. Do vậy, trong những năm qua các địa phương trong tỉnh đã đẩy mạnh thực hiện chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị sản phẩm là giải pháp tối ưu để bảo đảm phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững. Một trong những chuỗi liên kết sản xuất bao tiêu sản phẩm nông sản hiệu quả phải kể đến là chuỗi liên kết sản xuất ớt tại Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp (HTX DVNN) Toàn Năng, xã Trường Xuân, huyện Thọ Xuân.

Vùng liên kết trồng ớt L20 tại thôn Cốc Thôn, xã Trường Xuân.
Trường Xuân là xã thuần nông cách thị trấn Thọ Xuân 8 km về phía Đông Bắc có điều kiện tự nhiên, thổ nhưỡng thuận lợi cho sản xuất lúa, ngô ngọt, dưa chuột, ớt,…là một trong những địa phương có truyền thống về sản xuất nông nghiệp của huyện Thọ Xuân. Thực hiện Nghị quyết chuyển đổi giá trị cây trồng trên đơn vị diện tích và chuỗi liên kết trong chương trình xây dựng nông thôn mới và nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất nông sản hàng hóa. HTXDVNN Toàn Năng xã Trường Xuân, huyện Thọ Xuân đã liên kết sản xuất và tiêu thụ ớt với Công ty cổ phần xây dựng rau sạch Thanh Hoá với diện tích 100 ha, với 120 hộ trồng tại các thôn như: Cao Phú, Cốc Thôn, Thành Vinh, Hợp Tiến, Thọ Tiến. Giống ớt L20 (ớt chỉ địa) là giống ớt có khả năng thích ứng rộng, trồng nhiều vụ trong năm, năng suất cao, thời gian thu hoạch kéo dài, sinh trưởng mạnh, thời gian trồng từ tháng 8, 9, thời gian thu hoạch từ tháng 10 đến tháng 2 (thu hoạch 30-90 ngày sau khi trồng) cho thu hoạch 8 đến 10 lần, khả năng kháng bệnh tốt và phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng của địa phương.
Khi thực hiện chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ ớt giữa HTX DVNN Toàn Năng với công ty cổ phần xây dựng rau sạch Thanh Hoá đều được thông qua ký kết hợp đồng giữa hai bên nhằm đảm bảo sự rằng buộc, tính pháp lý thông qua các điều khoản được thể hiện rõ trong hợp đồng. Về phía công ty sẽ cử cán bộ kỹ thuật phối hợp cùng HTX và bà con nông dân để tập huấn, phổ biến quy trình sản xuất, hướng dẫn áp dụng đồng bộ các tiến bộ khoa học – kỹ thuật, cơ giới hóa chủ động trong sản xuất, canh tác theo hướng an toàn như sử dụng màng phủ nilon hạn chế cỏ dại giữ độ ẩm cho đất, bổ sung dinh dưỡng bằng phân hữu cơ, phòng trừ sâu bệnh hại bằng chế phẩm, men vi sinh, thuốc BVTV sinh học trong quá trình sản xuất giúp bảo vệ sự đa dạng sinh học, tránh tình trạng thoái hóa đất, tiết kiệm được lượng giống, giảm lượng phân bón và thuốc BVTV, an toàn cho sức khỏe người sản xuất và người sử dụng, hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Công ty sẽ chịu trách nhiệm cung ứng toàn bộ vật tư như: giống, phân bón, thuốc BVTV cũng như cam kết thu mua 100% sản phẩm sau thu hoạch cho các hộ dân tham gia mô hình và được khấu trừ vào tiền thanh toán sau khi thu hoạch sản phẩm. Sản phẩm sau khi thu hoạch được tổ chức thu mua ngay tại ruộng , vận chuyển về công ty để sơ chế bảo quản nhằm giảm tối đa tổn thất sau thu hoạch. Công ty cũng cam kết trong hợp đồng thanh toán ngay sau khi thu hoạch. Việc cam kết này giúp người dân yên tâm sản xuất không lo đầu ra cho sản phẩm giống như trước đây khi còn sản xuất theo kiểu truyền thống.
Về phía HTX DVNN Toàn Năng sẽ là đơn vị đại diện cho các hộ dân trồng ớt tại xã ký kết hợp đồng sản xuất – tiêu thụ với công ty cổ phần xây dựng rau sạch Thanh Hoá, có trách nhiệm đứng ra hợp đồng với các hộ dân, quy hoạch diện tích, bố trí vùng sản xuất tập trung để sản xuất với diện tích đất có độ phì phù hợp, liền bờ, liền thửa, chủ động tưới tiêu trong suốt thời gian sản xuất, lên danh sách các thành viên đạt tiêu chuẩn đáp ứng các tiêu chí mà công ty đề ra. Lập kế hoạch lịch thời vụ trồng, thời gian thu hoạch, tổ chức tập huấn và hướng dẫn các hộ tham gia sản xuất thực hiện đúng quy trình kỹ thuật sản xuất, phòng trừ sâu bệnh đầy đủ. Đồng thời, xuyên suốt trong quá trình sản xuất, HTX cũng phải thường xuyên kiểm tra, giám sát và hướng dẫn các hộ dân canh tác theo đúng tiêu chuẩn mà công ty đưa ra để đạt năng suất, chất lượng tốt nhất và đảm bảo sản lượng ớt đã ký hợp đồng với công ty.
Về phía các hộ dân tham ra mô hình có trách nhiệm chuẩn bị đất để sản xuất theo kế hoạch của HTX và công ty, tham gia đầy đủ các lớp tập huấn do công ty và HTX triển khai, các hộ dân cam kết bán toàn bộ sản phẩm cho công ty, tạo niềm tin liên kết lâu dài bền vững giữa người dân và doanh nghiệp.

Sản phẩm sau khi thu hoạch.
Việc triển khai đồng bộ, thực hiện đúng kỹ thuật, đảm bảo yêu cầu về quy trình sản xuất của công ty nên năng suất bình quân đạt 25 tấn/ha, chất lượng cao nên hiệu quả kinh tế thường đạt cao hơn từ 20% trở lên so với diện tích sản xuất đại trà, với giá bán cho công ty là 20.000 đồng/kg cho thu nhập bình quân là 500 triệu đồng/ha, sau khi trừ đi các chi phí đối ứng cho lợi nhuận 200 triệu đồng/ha. Nếu so với cùng một diện tích trồng lúa, trồng ngô ngọt thì khi trồng ớt theo liên kết sản xuất – tiêu thụ cho hiệu quả kinh tế cao gấp 4 – 5 lần. Khác với các chuỗi liên kết sản xuất thông thường, khi tham gia sản xuất theo chuỗi sản xuất chế biến sâu sau thu hoạch người nông dân không còn phải lo đầu ra, thị trường.
Mô hình liên kết sản xuất và tiêu thụ ớt tại xã Trường Xuân, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa đã và đang mang lại những hiệu quả tích cực, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, ổn định đầu ra, tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho người nông dân. Sự phát triển của mô hình không chỉ tạo ra việc làm trực tiếp cho người nông dân mà còn thúc đẩy các hoạt động kinh tế phụ trợ khác trong xã, góp phần vào sự phát triển kinh tế – xã hội của địa phương. Đây là một hướng đi đúng đắn, cần được tiếp tục nhân rộng và phát triển để thúc đẩy nền nông nghiệp của xã nói riêng và huyện Thọ Xuân nói chung ngày càng bền vững và hiệu quả./.
Văn Lộc