“Phát triển vùng nguyên liệu cói gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm trên địa bàn huyện Nông Cống”

 

Nông Cống là một trong 3 huyện có diện tích trồng cói lớn nhất trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa với 389,69 ha chiếm 22,66% tổng diện tích trồng cói của tỉnh được phân bố trên địa bàn 8 xã: Minh Khôi, Trường Giang, Tế Nông, Trường Trung, Trường Minh, Tượng Văn, Tượng Sơn và Tượng Lĩnh.

Sản phẩm của cây cói không những tiêu thụ nội địa mà còn có giá trị xuất khẩu, với giá bán trung bình từ 1,2-1,4 triệu đồng/tạ cói nguyên liệu thì lợi nhuận từ trồng cói của người dân hiện nay vào khoảng 100- 110 triệu/ha cao hơn nhiều so với các loại cây trồng khác tại địa phương. Cói nguyên liệu ngoài bán thô còn được dùng để làm các sản phẩm chiếu cói, làm đồ thủ công mỹ nghệ vừa có giá trị kinh tế cao vừa góp phần giải quyết một lượng lớn lao động dư thừa tại địa phương, đặc biệt là đối tượng ngoài độ tuổi thu hút của các nhà máy, xí nghiệp như: phụ nữ ở nhà chăm sóc gia đình, người tàn tật, lao động ngoài 40 tuổi, cho thu nhập trong thời gian nông nhàn từ 3-5 triệu đồng/tháng…. Theo con số thống kê của các xã vùng cói hiện có khoảng 4.000 lao động làm việc trong lĩnh vực sản xuất chế biến cói chiếm khoảng 26% lực lượng lao động trong nông nghiệp. Từ đó cho thấy cây cói đã và đang mang lại giá trị tích cực về cả phương diện kinh tế và an sinh xã hội cho người dân.

Ảnh: Cánh đồng cói xã Trường Trung, huyện Nông Cống

Tuy nhiên trong những năm gần đây, việc phát triển vùng nguyên liệu cói còn chưa được chú trọng, canh tác vẫn dựa theo kinh nghiệm truyền thống, kỹ thuật trồng, chăm sóc cói của người dân chưa tuân thủ theo khuyến cáo, giống cói bản địa được canh tác qua nhiều năm có hiện tượng thoái hóa dẫn đến sâu bệnh nhiều, năng suất, chất lượng cói giảm sút năm 2016 năng suất bình quân đạt khoảng 80 tạ/ha/vụ nhưng hiện nay chỉ còn khoảng 76 tạ/ha; hao hụt trong và sau thu hoạch cói lớn do còn phụ thuộc nhiều vào thời tiết, hệ thống sân phơi, kho chứa chưa đảm bảo nên khi thời tiết không thuận lợi cói dễ bị ẩm mốc, giảm phẩm chất, gây ảnh hưởng đến giá bán và thu nhập cho người dân. Do đó để phát triển vùng nguyên liệu cói theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng cói, đồng thời giảm tổn thất sau thu hoạch thì việc quy hoạch lại diện tích trồng cói, hình thành các vùng trồng cói thâm canh, nghiên cứu chọn tạo, phục tráng giống cói bản địa đồng thời phát triển hệ thống kho bãi đáp ứng nhu cầu phơi, dự trữ cói nguyên liệu là vấn đề cần được chính quyền địa phương quan tâm trong thời gian tới.

Đối với lĩnh vực chế biến và tiêu thụ sản phẩm từ cói, mỗi năm vùng cói huyện Nông Cống cho sản lượng từ 5.500-6.000 tấn. Cói nguyên liệu sau khi thu hoạch sẽ được chẻ, phơi khô và xuất bán thô hoặc đưa vào các cơ sở dệt chiếu, các hợp tác xã thủ công mỹ nghệ trên địa bàn huyện. Tuy nhiên, hiện nay năng lực chế biến cói của các HTX, tổ hợp tác nghề cói và các hộ dệt chiếu tại địa phương chỉ đạt 17-20% sản lượng của vùng, 80% sản lượng cói nguyên liệu còn lại được tiêu thụ thông qua thương lái từ các huyện khác trong tỉnh thu mua như: Quảng Xương, Nga Sơn và các tỉnh bạn như: Thái Bình, Nam Định, Hưng Yên để phục vụ làm đồ thủ công mỹ nghệ xuất khẩu sang Trung Quốc và các nước Đông Âu nhưng không thông qua hợp đồng ký kết. Do đó, giá nguyên liệu cói không ổn định, tình trạng bị ép giá mỗi khi rộ vụ thu hoạch thường xuyên xảy ra.

Ảnh: Sản phẩm chiếu Nông Cống

Nhằm khắc phục những mặt còn tồn tại và phát huy lợi thế của vùng cói từ đó nâng cao giá trị ngành hàng cói, UBND huyện Nông Cống đã đưa ra nhiều cơ chế hỗ trợ gắn việc phát triển vùng nguyên liệu với chế biến và tiêu thụ sản phẩm mà gần đây nhất là Quyết định 1743/QĐ-UBND ngày 25/07/2023 về việc phê duyệt “Đề án phát triển sản xuất vùng cói trên địa bàn huyện Nông Cống tỉnh Thanh Hóa đến năm 2030” với mục tiêu đến năm 2030 diện tích cói toàn huyện là 372,1ha trong đó hình thành vùng cói thâm canh có diện tích 137,21ha, năng suất bình quân đạt 91 tạ/ha/vụ và năng lực chế biến sản phẩm từ cói của vùng tăng từ 20% lên 40%.

Trên cơ sở thực hiện đề án, UBND huyện cũng đã ban hành một số kế hoạch  hành đồng và cơ chế hỗ trợ đi kèm để phát triển vùng nguyên liệu cói như: hỗ trợ mở các lớp tập huấn kiến thức trồng và chăm sóc cói, hỗ trợ máy chẻ cói, đầu tư cải tạo, nâng cấp một số tuyến giao thông vùng cói, quy hoạch các sân phơi, hệ thống kho chứa tại vùng cói thâm canh, xây dựng mô hình phục tráng giống cói bản địa.. đồng thời chỉ đạo các phòng ban có liên quan của huyện như phòng Nông nghiệp, phòng Công thương,.. kết hợp với chính quyền tại các xã vùng cói, các HTX thủ công mỹ nghệ trên địa bàn, hỗ trợ đào tạo nghề và phát triển các tổ chức sản xuất nghề cói, nhân rộng mô hình tổ hợp tác nghề cói tại các vùng nguyên liệu nhằm tận dụng lợi thế về lao động và nguồn nguyên liệu tại chỗ, giảm thiểu chi phí vận chuyển, đi lại; đồng thời hỗ trợ các cơ sở chế biến thuê đất, tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi để mở rộng quy mô sản xuất, nhằm tăng tỷ lệ chế biến sau thu hoạch, giảm lượng xuất bán thô và sự phụ thuộc vào thương lái.

Đối với thị trường tiêu thụ, nhằm giúp thương hiệu cói Nông Cống tiếp cận với nhiều nhóm đối tượng khách hàng trong và ngoài tỉnh, UBND huyện Nông Cống đã mời các doanh nghiệp có khả năng sản xuất, chế biến sản phẩm từ cói đến tham quan và tìm kiếm cơ hội đầu tư vào địa bàn huyện Nông Cống như Công ty Quốc Đại,… đồng thời ban hành cơ chế hỗ trợ, khuyến khích các HTX thủ công mỹ nghệ, HTX tiểu thủ công nghiệp, các tổ hợp tác, các cơ sở chế biến tham gia giới thiệu trưng bày, quảng bá sản phẩm từ cói tại các kỳ hội chợ quốc tế, hội chợ làng nghề, các trang thương mại điện tử,…đây cũng là cơ hội để các cơ sở chế biến tham quan học hỏi kinh nghiệm và tìm kiếm khách hàng mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm.

Nhờ sự quan tâm của chính quyền và nhân dân địa phương, đến nay vùng cói Nông Cống đã có những thành tựu nhất định, một số tuyến giao thông nội đồng vùng cói được đầu tư xây dựng giúp bà con chăm sóc và thu hoạch cói thuận lợi, giảm bớt thiệt hại khi mưa lũ, người dân từng bước đưa các biện pháp canh tác mới vào đồng ruộng, hạn chế sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón qua đó giảm chi phí sản xuất, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất của người dân. Lĩnh vực chế biến cói cũng ngày càng phát triển thể hiện qua các Hợp tác xã và tổ hợp tác thủ công mỹ nghệ, tiểu thủ công nghiệp về cói không ngừng phát triển về số lượng và quy mô là HTX Thủ công mỹ nghệ Tân Thọ, HTX tiểu thủ công nghiệp Tân Phúc và HTX tiểu thủ công nghiệp Minh Thọ và hàng chục tổ hợp tác với hơn 2000 lao động tại địa phương. Các sản phẩm được chế biến từ cói ngày càng cải tiến về mẫu mã và chất lượng được đông đảo người tiêu dùng đón nhận và đánh giá cao, trong đó có 4 sản phẩm thủ công mỹ nghệ từ cói được công nhận sản phẩm OCOP, với 3 sản phẩm đạt OCOP 4 sao gồm: Chậu cói, sọt cói, đĩa cói của HTX thủ công mỹ nghệ Tân Thọ và 1 sản phẩm túi xách Bảo Hường của HTX tiểu thủ công nghiệp Tân Phúc được công nhận sản phẩm OCOP 3 sao. Hiện nay, mỗi năm các hợp tác xã nghề cói trên địa bàn huyện sản xuất và đưa ra thị trường hàng triệu sản phẩm trong đó 80% là xuất khẩu với các thị trường như Châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc,..

Ảnh: Sọt cói và đĩa cói của HTX thủ công mỹ nghệ Tân Thọ

Có thể nói các cơ chế chính sách của huyện Nông Cống đã và đang có những tác động tích cực đến sự phát triển của vùng cói nói riêng và đời sống người dân nói chung. Tuy nhiên để thực hiện được mục tiêu nâng cao giá trị gia tăng đối với vùng cói tại địa phương vẫn cần sự chung tay góp sức giữa chính quyền, nhân dân và các doanh nghiệp chế biến, sự thu hút đầu tư từ bên ngoài nhằm phát triển đồng bộ cả về cơ sở chế biến, bảo quản đến phân phối và tiêu thụ sản phẩm. Với quyết tâm hành động quyết liệt và xác định hướng đúng hướng đi cho cây cói, huyện Nông Cống phấn đấu đưa cây cói trở thành một trong những cây trồng mũi nhọn trong quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp, gắn phát triển vùng nguyên liệu với chế biến từng bước xây dựng và khẳng định thương hiệu cói Nông Cống trong lòng khách hàng trong và ngoài nước.

                                                                             Hồ Lý