Viện Nông nghiệp Thanh Hóa thực hiện “Nuôi bảo tồn, lưu giữ nguồn gen và làm chủ công nghệ sản xuất nhân tạo giống cá Lăng chấm” trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa

Viện Nông nghiệp Thanh Hóa thực hiện “Nuôi bảo tồn, lưu giữ nguồn gen và làm chủ công nghệ sản xuất nhân tạo giống cá Lăng chấm” trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa

Cá Lăng chấm (Hemibagrus guttatus) là loài cá nước ngọt quý hiếm thường phân bố trên khu vực hệ thống sông Hồng trải dài tại các tỉnh phía Bắc. Tại Thanh Hoá, cá sinh sống chủ yếu tại khu vực các sông lớn như sông Mã, sông Chu,…Với đặc tính thịt trắng, chắc, thơm ngon, hoàn toàn không có xương dăm và giàu giá trị dinh dưỡng, loài cá này được coi là một trong những đặc sản hàng đầu mang lại giá trị kinh tế cao trên thị trường và được khách hàng ưa chuộng. Tuy nhiên, hiện nay sản lượng loài cá này ngoài tự nhiên liên tục sụt giảm do tác động từ tình trạng ô nhiễm môi trường sống, nạn khai thác quá mức dẫn đến nguồn gen cá Lăng chấm dần trở nên cạn kiệt, mất đi khả năng tái tạo, phục hồi, dẫn đến hệ sinh thái tự nhiên bị ảnh hưởng. Thậm chí cá Lăng chấm đã được đưa vào Sách đỏ Việt Nam và được phân loại là loài nguy cấp, cần được bảo vệ khẩn cấp.

Trước thực trạng đó cùng với định hướng phát triển ngành nuôi trồng thủy sản (NTTS) gắn với việc tái cơ cấu ngành thủy sản, chú trọng phát triển thuỷ sản theo hướng bền vững, UBND tỉnh Thanh Hóa đã phê duyệt Đề án “Sưu tầm, bảo tồn và phát triển nguồn gen một số cây trồng, vật nuôi, thủy sản có giá trị trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đến năm 2030”. Đề án được Viện Nông nghiệp Thanh Hóa chủ trì thực hiện nhiệm vụ nuôi bảo tồn, lưu giữ nguồn gen, thuần hóa và nghiên cứu sinh sản nhân tạo giống cá bản địa này. Mục tiêu là đưa vào nuôi thử nghiệm nhằm chủ động được nguồn con giống chất lượng hướng tới phục vụ nuôi thương phẩm quy mô lớn đáp ứng nhu cầu thị trường, nâng cao hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường trong và ngoài tỉnh Thanh Hóa.

(Cá Lăng chấm được nuôi bảo tồn tại Trại cá giống Thiệu Hoá)

Thực hiện đề án, Viện Nông nghiệp Thanh Hóa đã tuyển chọn và mua 50 cá thể cá Lăng chấm bố mẹ đạt khối lượng 3 kg/con từ Công ty CP đầu tư và phát triển nông nghiệp Thanh Hoá vào nuôi thử nghiệm. Nhằm đảm bảo được các điều kiện về cơ sở vật chất, hệ thống ao nuôi, trang thiết bị vật tư,… Viện Nông nghiệp đã thuê địa điểm tại Trại sản xuất cá giống Thiệu Hóa thuộc Công ty Cổ phần Giống thủy sản Thanh Hóa trong thời gian 12 tháng từ 01/01/2025 – 31/12/2025 để thực hiện dự án. Về phía Viện Nông nghiệp đơn vị chủ trì dự án sẽ cung cấp một số thiết bị ương ấp, thức ăn, chế phẩm, thuốc phòng trị bệnh,…, bố trí các kỹ thuật viên chính phụ trách về kỹ thuật, theo dõi, ghi chép và tổng hợp, lập báo cáo quy trình nhằm thực hiện dự án một cách hiệu quả, khoa học nhất.

(Ao nuôi bảo tồn cá Lăng chấm)

Giai đoạn nuôi bảo tồn, lưu giữ nguồn gen (nuôi vỗ): vốn là loài quen sống ở tầng đáy các dòng sông lớn, ưa nước sạch và dòng chảy mạnh, việc đưa cá Lăng chấm vào môi trường ao nuôi nhân tạo tĩnh là một thử thách cực kỳ lớn cho đội ngũ nghiên cứu. Để khắc phục, các chuyên gia đã thiết lập một quy trình kỹ thuật nghiêm ngặt từ khâu thiết kế ao nuôi cho đến chế độ chăm sóc đặc biệt. Ao nuôi được bố trí ở nơi quang đãng, không bị rợp, có cống cấp và thoát nước đảm bảo thuận tiện cho việc cấp và thoát nước dễ dàng, đảm bảo các tiêu chuẩn về diện tích ao tối thiểu rộng từ 1.000 – 1.500 m2, mực nước luôn duy trì độ sâu 1,3 – 1,5m, rải cát ở tầng đáy để tạo không gian tương thích với tập tính sống tự nhiên của cá.  Trong ao lắp đặt hệ thống máy bơm để kích thích dòng chảy gồm 2 máy bơm đối chiều công suất 1,5 kW và 4 máy bơm công suất 1,1 kW để phun mưa nhân tạo. Hệ thống này vừa giúp tăng hàm lượng oxy hòa tan, vừa kích thích cá bố mẹ phát triển tuyến sinh dục. Dinh dưỡng nghiêm ngặt: Khẩu phần ăn hàng ngày được duy trì từ 5 – 7% khối lượng cơ thể cá, sử dụng nguồn cá mè kết hợp tôm sông nguyên con theo tỷ lệ 3:1 (3 kg cá tạp và 1 kg tôm) nhằm đảm bảo nguồn dinh dưỡng tối ưu. Nhờ làm chủ được kỹ thuật, kết quả nuôi bảo tồn nguồn gen cho thấy cá đã thích nghi với môi trường nước tĩnh, quen dần với thức ăn thụ động và hấp thụ thức ăn tốt, tốc độ tăng trưởng ổn định, trọng lượng trung bình đạt trên 3 kg/con. Về mặt sức khỏe, cá khỏe mạnh, hoạt động linh hoạt, bề ngoài mang màu sắc bóng đặc trưng, tỷ lệ hao hụt trong quá trình nuôi thấp.

(Quy trình nuôi sinh sản nhân tạo giống cá lăng chấm)

Giai đoạn nhân giống sinh sản: mùa sinh sản tự nhiên của cá Lăng chấm diễn ra khá ngắn, thường chỉ kéo dài từ cuối tháng 4 đến đầu tháng 6, thời gian từ khi bắt đầu cho cá đẻ đến khi kết thúc vụ cá đẻ kéo dài khoảng 4-5 tuần. Sau quá trình sàng lọc kỹ lưỡng, 30 cá thể bố mẹ thành thục nhất (gồm 15 cá đực và 15 cá cái) đưa vào sinh sản nhân tạo. Kết quả nuôi thực nghiệm cho thấy cá Lăng chấm bố mẹ thành thục sinh dục rất tốt trong điều kiện ao đất với tỷ lệ đạt 66,7% ở cá cái và 85,7% ở cá đực. Điểm khác biệt trong quy trình sinh sản cá lăng chấm so với những loại cá khác nằm ở cấu tạo sinh học độc đáo của cá đực. Tuyến sinh dục của chúng có hình lược, lượng tinh dịch (sẹ) rất ít và hoàn toàn không thể vuốt tinh như các loài cá thông thường như trắm, chép nên phải áp dụng phương pháp mổ cá đực để lấy tuyến sẹ, sau đó nghiền nhỏ và tiến hành thụ tinh khô trực tiếp với trứng của cá cái. Tổng số trứng thu được đạt 1,2 triệu trứng (năng suất sinh sản đạt 40.000 trứng/kg cá cái), tỷ lệ thụ tinh đạt mức 80% (tương đương 960.000 trứng được thụ tinh thành công). Trong quá trình ấp trứng, loại bỏ trứng bị ung và nhiễm nấm thủy mi thu được số cá nở: 7.530 (trong đó: cá bột: 7.000 con, cá dị hình: 530 con). Qua quá trình sàng lọc khắt khe loại bỏ con bị dị hình, các kỹ sư đã thu được 6.000 con cá bột hoàn toàn khoẻ mạnh để chuyển sang giai đoạn ương nuôi. Giai đoạn ương nuôi từ cá bột lên cá hương tỷ lệ sống đạt mức lý tưởng lên tới 88%. Giai đoạn cá hương lên cá giống, tỷ lệ sống duy trì ở mức 70%, chính thức thu về 3.500 cá giống đạt kích cỡ tiêu chuẩn từ 3 – 4 cm. Tốc độ phát triển của cá giống thể hiện khả năng thích nghi tuyệt vời khi con giống khỏe mạnh, nhanh nhẹn, tăng trưởng rất nhanh, khối lượng tuyệt đối tăng đều đặn 2,6 g/con/ngày.

(Giống cá Lăng chấm sản xuất tại Viện Nông nghiệp Thanh Hoá)

Sau 12 tháng triển khai thực hiện, dự án đã mang lại những hiệu quả nhất định, cho thấy sự thích nghi tốt và khả năng sinh sản trong điều kiện ao nuôi, mở ra nhiều cơ hội, triển vọng trong công tác lưu giữ, bảo tồn nguồn gen cá Lăng chấm, làm chủ quy trình thuần hóa và sinh sản nhân tạo cá Lăng chấm của Viện Nông nghiệp Thanh Hóa. Kết thúc dự án, Viện đã hoàn thiện quy trình tuyển chọn nguồn gen cá Lăng chấm có tính đa dạng di truyền cao trên địa bàn tỉnh, hoàn thiện quy trình kỹ thuật sản xuất giống cá Lăng chấm, quy trình nuôi thương phẩm cá Lăng chấm và đã bước đầu chuyển giao quy trình kỹ thuật, cung cấp nguồn giống cá Lăng chấm cho các đơn vị đối tác, các hộ NTTS trong và ngoài tỉnh có nhu cầu như Tuyên Quang, Phú Thọ,… để đưa vào nuôi thương phẩm. Các mô hình nuôi cá thương phẩm bước đầu mang lại những kết quả khả quan, cá thích nghi tốt với điều kiện ao nuôi tự nhiên, sử dụng nguồn thức ăn tươi sống có sẵn tại địa phương kết hợp với thức ăn công nghiệp bổ sung giai đoạn đầu giúp cá sinh trưởng và phát triển tốt, ít bị bệnh. Với thời gian nuôi dự kiến từ 2 – 3 năm trọng lượng cá có thể đạt từ 2,5 – 3 kg/con, năng suất ước đạt 1,7 – 1,8 tấn/ha, hiện nay với mức giá cá thương phẩm lên tới 800.000 đồng/kg, sau khi trừ chi phí lợi nhuận ước đạt khoảng 1 tỷ đồng/ha giúp đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người nuôi. Trong giai đoạn tới, Viện sẽ tiếp tục hoàn thiện và nâng cao kỹ thuật nuôi duy trì đàn cá bố mẹ, áp dụng quy trình sản xuất nhân tạo thương mại hóa cá giống Lăng chấm để phục vụ nhu cầu nuôi thương phẩm của người nuôi trồng trong và ngoài tỉnh.

Bảo tồn và nhân giống nguồn gen cá Lăng chấm không chỉ mở ra cơ hội đóng góp vào việc bảo tồn một nguồn gen thủy sản đặc sản đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng ngoài tự nhiên, mà còn tạo tiền đề cho việc tự chủ con giống ngay tại địa phương, đồng thời cho thấy Viện Nông nghiệp Thanh Hóa hoàn toàn có thể làm chủ công nghệ, biến một loài cá bản địa tự nhiên thành sản phẩm thương mại có giá trị kinh tế cao. Việc sản xuất thành công giống cá sẽ góp phần giảm chi phí đầu vào, hạ giá thành sản phẩm giống cá Lăng chấm, hướng tới nhân rộng mô hình nuôi cá thương phẩm nâng cao chất lượng, sản lượng thủy sản đặc sản có giá trị kinh tế cung cấp cho thị trường. Nâng cao ý thức cho người dân trong việc thay đổi tập quán nuôi, áp dụng các quy trình kỹ thuật vào nuôi trồng đảm bảo theo hướng an toàn, hạn chế việc khai thác bừa bãi nguồn thủy sản ngoài tự nhiên, góp phần bảo tồn giống cá Lăng chấm quý hiếm. Từ đó, tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo cho người NTTS, góp phần vào sự phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh.

Phương Thuý